中文圣经

DÂN SỐ 35

đã biết 0/237

西

yē hé huá zài mó yā píng yuán — yuē dàn hé biān 、 yē lì gē duì miàn xiǎo yù mó xī shuō :

Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se trong đồng Mô-áp, gần sông Giô-đanh, đối ngang Giê-ri-cô, mà rằng:

「 nǐ fēn fù yǐ sè liè rén , yào cóng suǒ dé wèi yè de dì zhōng bǎ xiē chéng gěi lì wèi rén jū zhù , yě yào bǎ zhè chéng sì wéi de jiāo yě gěi lì wèi rén 。

Hãy biểu dân Y-sơ-ra-ên do trong phần sản nghiệp mình đã có, nhường những thành cho người Lê-vi đặng ở; cho luôn một miếng đất ở chung quanh các thành đó.

zhè chéng yì yào guī tā men jū zhù , chéng yì de jiāo yě kě yǐ mù yǎng tā men de niú yáng hé gè yàng de shēng chù , yòu kě yǐ ān zhì tā men de cái wù 。

Người Lê-vi sẽ có những thành đặng ở; còn đất chung quanh các thành nầy sẽ dùng cho súc vật, cho sản vật, và cho hết thảy thú vật của họ.

nǐ men gěi lì wèi rén de jiāo yě , yào cóng chéng gēn qǐ , sì wéi wǎng wài liáng yì qiān zhǒu 。

Đất chung quanh thành mà các ngươi nhường cho người Lê-vi sẽ là một ngàn thước chu vi, kể từ vách thành và ở ngoài.

西

lìng wài dōng liáng èr qiān zhǒu , nán liáng èr qiān zhǒu , xī liáng èr qiān zhǒu , běi liáng èr qiān zhǒu , wèi biān jiè , chéng zài dāng zhōng ; zhè yào guī tā men zuò chéng yì de jiāo yě 。

Vậy các ngươi phải đo, phía ngoài thành về hướng đông hai ngàn thước, về hướng nam hai ngàn thước, về hướng tây hai ngàn thước, và về hướng bắc hai ngàn thước; cái thành sẽ ở chính giữa. Đó sẽ là đất của những thành người Lê-vi.

使

nǐ men gěi lì wèi rén de chéng yì , qí zhōng dāng yǒu liù zuò táo chéng , shǐ wù shā rén de kě yǐ táo dào nà lǐ 。 cǐ wài hái yào gěi tā men sì shí èr zuò chéng 。

Trong số thành các ngươi sẽ nhường cho người Lê-vi, sẽ có sáu cái thành ẩn náu mà các ngươi phải chỉ cho, để kẻ sát nhân trốn tránh tại đó; ngoài sáu thành đó, các ngươi phải nhường cho người Lê-vi bốn mươi hai cái thành.

nǐ men yào gěi lì wèi rén de chéng , gòng yǒu sì shí bā zuò , lián chéng dài jiāo yě dōu yào gěi tā men 。

Hết thảy thành các ngươi sẽ nhường cho người Lê-vi luôn với đất, số là bốn mươi tám cái.

。」

yǐ sè liè rén suǒ dé de dì yè cóng zhōng yào bǎ xiē chéng yì gěi lì wèi rén ; rén duō de jiù duō gěi , rén shǎo de jiù shǎo gěi ; gè zhī pài yào àn suǒ chéng shòu wèi yè zhī dì bǎ chéng yì gěi lì wèi rén 。」

Về những thành do trong sản nghiệp của dân Y-sơ-ra-ên mà các ngươi sẽ nhường cho người Lê-vi phải lấy bớt nhiều hơn của chi phái có nhiều, và lấy bớt ít hơn của chi phái có ít; mỗi chi phái nhường cho người Lê-vi những thành cân phân theo sản nghiệp của mình sẽ được.

西

yē hé huá xiǎo yù mó xī shuō :

Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:

「 nǐ fēn fù yǐ sè liè rén shuō : nǐ men guò yuē dàn hé , jìn le jiā nán dì ,

Hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi nào các ngươi đã đi qua sông Giô-đanh đặng vào xứ Ca-na-an,

使

jiù yào fēn chū jǐ zuò chéng , wèi nǐ men zuò táo chéng , shǐ wù shā rén de kě yǐ táo dào nà lǐ 。

thì phải lựa những thành dùng làm thành ẩn náu cho mình, là nơi kẻ sát nhân, vì vô ý đánh chết ai, chạy ẩn náu mình được.

使

zhè xiē chéng kě yǐ zuò táo bì bào chóu rén de chéng , shǐ wù shā rén de bú zhì yú sǐ , děng tā zhàn zài huì zhòng miàn qián tīng shěn pàn 。

Những thành đó sẽ dùng làm thành ẩn náu để trốn khỏi kẻ báo thù huyết, hầu cho kẻ sát nhân không chết cho đến chừng nào ứng hầu trước mặt hội chúng đặng chịu xét đoán.

nǐ men suǒ fēn chū lái de chéng , yào zuò liù zuò táo chéng 。

Vậy, trong những thành các ngươi nhường cho, sẽ có sáu thành ẩn náu cho các ngươi.

zài yuē dàn hé dōng yào fēn chū sān zuò chéng , zài jiā nán dì yě yào fēn chū sān zuò chéng , dōu zuò táo chéng 。

Các ngươi phải chỉ ba thành phía bên kia sông Giô-đanh, và lập ba thành khác trong xứ Ca-na-an; ấy sẽ là những thành ẩn náu.

使

zhè liù zuò chéng yào gěi yǐ sè liè rén hé tā men zhōng jiān de wài rén , bìng jì jū de , zuò wéi táo chéng , shǐ wù shā rén de dōu kě yǐ táo dào nà lǐ 。

Sáu thành nầy sẽ dùng làm chỗ ẩn náu cho dân Y-sơ-ra-ên, luôn cho khách ngoại bang và kẻ nào kiều ngụ ở trong dân đó, để ai vì vô ý đánh chết một người có thế chạy ẩn mình tại đó.

「 tǎng ruò rén yòng tiě qì dǎ rén , yǐ zhì dǎ sǐ , tā jiù shì gù shā rén de ; gù shā rén de bì bèi zhì sǐ 。

Nhưng nếu người ấy đánh bằng đồ sắt, và người bị đánh chết đi, ấy là một kẻ sát nhân; kẻ sát nhân hẳn phải bị xử tử.

ruò yòng kě yǐ dǎ sǐ rén de shí tou dǎ sǐ le rén , tā jiù shì gù shā rén de ; gù shā rén de bì bèi zhì sǐ 。

Nếu người đánh bằng một cục đá cầm nơi tay có thế làm chết, và người bị đánh chết đi, ấy là một kẻ sát nhân; kẻ sát nhân hẳn phải bị xử tử.

ruò yòng kě yǐ dǎ sǐ rén de mù qì dǎ sǐ le rén , tā jiù shì gù shā rén de ; gù shā rén de bì bèi zhì sǐ 。

Cũng vậy, nếu người đánh bằng đồ cây cầm nơi tay có thế làm chết, và người bị đánh chết đi, ấy là một kẻ sát nhân; kẻ sát nhân hẳn phải bị xử tử.

bào xuè chóu de bì qīn zì shā nà gù shā rén de , yí yù jiàn jiù shā tā 。

Aáy là kẻ báo thù huyết sẽ làm cho kẻ sát nhân phải chết; khi nào kẻ báo thù huyết gặp kẻ sát nhân thì phải làm cho nó chết đi.

rén ruò yīn yuàn hèn bǎ rén tuī dǎo , huò shì mái fú wǎng rén shēn shàng rēng wù , yǐ zhì yú sǐ ,

Nếu một người nào vì lòng ganh ghét xô lấn một người khác, hay là cố ý liệng vật chi trên mình nó, và vì cớ đó nó bị chết;

huò shì yīn chóu hèn yòng shǒu dǎ rén , yǐ zhì yú sǐ , nà dǎ rén de bì bèi zhì sǐ 。 tā shì gù shā rén de ; bào xuè chóu de yí yù jiàn jiù shā tā 。

hoặc vì sự thù đánh bằng bàn tay, và vì cớ đó nó bị chết, thì người nào đánh đó hẳn phải bị xử tử. Aáy là một kẻ sát nhân; người báo thù huyết khi nào gặp kẻ sát nhân phải làm cho nó chết đi.

「 tǎng ruò rén méi yǒu chóu hèn , hū rán jiāng rén tuī dǎo , huò shì méi yǒu mái fú bǎ wù rēng zài rén shēn shàng ,

Nếu vì tình cờ, vẫn hòa thuận nhau, mà người có lấn xô, hoặc liệng vật chi trên mình người kia,

huò shì méi yǒu kàn jiàn de shí hòu yòng kě yǐ dǎ sǐ rén de shí tóu rēng zài rén shēn shàng , yǐ zhì yú sǐ , běn lái yǔ tā wú chóu , yě wú yì hài tā 。

hoặc nếu không phải thù nghịch chẳng có ý làm hại, lại không thấy mà làm rớt một cục đá trên mình người kia, có thế làm chết được, và nếu người chết đi,

huì zhòng jiù yào zhào diǎn zhāng , zài dǎ sǐ rén de hé bào xuè chóu de zhōng jiān shěn pàn 。

thì cứ theo luật lệ nầy, hội chúng phải xử đoán cho kẻ đã đánh và kẻ báo thù huyết:

使

huì zhòng yào jiù zhè wù shā rén de tuō lí bào xuè chóu rén de shǒu , yě yào shǐ tā guī rù táo chéng 。 tā yào zhù zài qí zhōng , zhí děng dào shòu shèng gāo de dà jì sī sǐ le 。

hội chúng sẽ giải cứu kẻ sát nhân khỏi tay người báo thù huyết, và biểu người trở về thành ẩn náu, là nơi người đã chạy ẩn mình; và người phải ở đó cho đến chừng nào thầy tế lễ thượng phẩm đã được xức dầu thánh qua đời.

dàn wù shā rén de , wú lùn shén me shí hòu , ruò chū le táo chéng de jìng wài ,

Nhưng nếu kẻ sát nhân đi ra ngoài giới hạn của thành ẩn náu, là nơi người đã chạy ẩn mình,

bào xuè chóu de zài táo chéng jìng wài yù jiàn tā , jiāng tā shā le , bào xuè chóu de jiù méi yǒu liú xuè zhī zuì 。

và nếu kẻ báo thù huyết gặp, giết người ở ngoài giới hạn thành ẩn náu, thì kẻ báo thù huyết sẽ không mắc tội sát nhân.

yīn wèi wù shā rén de gāi zhù zài táo chéng lǐ , děng dào dà jì sī sǐ le 。 dà jì sī sǐ le yǐ hòu , wù shā rén de cái kě yǐ huí dào tā suǒ dé wèi yè zhī dì 。

Vì kẻ sát nhân phải ở trong thành ẩn náu cho đến chừng nào thầy tế lễ thượng phẩm qua đời; nhưng sau khi thầy tế lễ thượng phẩm qua đời, kẻ sát nhân sẽ được trở về trong sản nghiệp mình.

zhè zài nǐ men yí qiè de zhù chù , yào zuò nǐ men shì shì dài dài de lǜ lì diǎn zhāng 。

Bất luận các ngươi ở nơi nào, điều nầy phải dùng làm một luật lệ xét đoán cho các ngươi trải qua các đời.

「 wú lùn shuí gù shā rén , yào píng jǐ gè jiàn zhèng rén de kǒu bǎ nà gù shā rén de shā le , zhǐ shì bù kě píng yí gè jiàn zhèng de kǒu jiào rén sǐ 。

Nếu ai giết một người nào, người ta sẽ cứ theo lời khai của những người chứng mà giết kẻ sát nhân; nhưng một người chứng không đủ cớ đặng giết ai.

gù shā rén 、 fàn sǐ zuì de , nǐ men bù kě shōu shú jià dài tì tā de mìng ; tā bì bèi zhì sǐ 。

Các ngươi chớ lãnh tiền chuộc mạng của một người sát nhân đã có tội và đáng chết, vì nó hẳn phải bị xử tử.

使

nà táo dào táo chéng de rén , nǐ men bù kě wèi tā shōu shú jià , shǐ tā zài dà jì sī wèi sǐ yǐ xiān zài lái zhù zài běn dì 。

Các ngươi đừng lãnh tiền chuộc kẻ đã chạy ẩn mình trong thành ẩn náu, hầu cho nó trở về ở trong xứ sau khi thầy tế lễ qua đời.

zhè yàng , nǐ men jiù bù wū huì suǒ zhù zhī dì , yīn wèi xuè shì wū huì dì de ; ruò yǒu zài dì shàng liú rén xuè de , fēi liú nà shā rén zhě de xuè , nà dì jiù bù dé jié jìng 。

Các ngươi chớ làm ô uế xứ mà các ngươi sẽ ở; vì huyết làm ô uế xứ. Nhược bằng có kẻ làm đổ huyết ra trong xứ, nếu không làm đổ huyết nó lại, thì không thế chuộc tội cho xứ được.

。」

nǐ men bù kě diàn wū suǒ zhù zhī dì , jiù shì wǒ zhù zài qí zhōng zhī dì , yīn wèi wǒ — yē hé huá zhù zài yǐ sè liè rén zhōng jiān 。」

Vậy, các ngươi chớ làm ô uế xứ, là nơi các ngươi sẽ ở, và chính giữa đó là nơi ta sẽ ngự; vì ta là Đức Giê-hô-va ngự giữa dân Y-sơ-ra-ên.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.