中文圣经

KHẢI THỊ 14

đã biết 0/246

wǒ yòu guān kàn , jiàn gāo yáng zhàn zài xī ān shān , tóng tā yòu yǒu shí sì wàn sì qiān rén , dōu yǒu tā de míng hé tā fù de míng xiě zài é shàng 。

Tôi nhìn xem, thấy Chiên Con đứng trên núi Si-ôn, và với Ngài có mười bốn vạn bốn ngàn người đều có danh Chiên Con và danh Cha Chiên Con ghi trên trán mình.

wǒ tīng jiàn cóng tiān shàng yǒu shēng yīn , xiàng zhòng shuǐ de shēng yīn hé dà léi de shēng yīn , bìng qiě wǒ suǒ tīng jiàn de hǎo xiàng tán qín de suǒ tán de qín shēng 。

Tôi nghe một tiếng từ trên trời xuống, y như tiếng nhiều nước, và như tiếng sấm lớn; tiếng mà tôi nghe đó như tiếng đàn cầm mà người đánh đàn gảy vậy:

仿

tā men zài bǎo zuò qián , bìng zài sì huó wù hé zhòng zhǎng lǎo qián chàng gē , fǎng fú shì xīn gē ; chú le cóng dì shàng mǎi lái de nà shí sì wàn sì qiān rén yǐ wài , méi yǒu rén néng xué zhè gē 。

chúng hát một bài ca mới trước ngôi, trước bốn con sanh vật và các trưởng lão. Không ai học được bài ca đó, họa chăng chỉ có mười bốn vạn bốn ngàn người đã được chuộc khỏi đất mà thôi.

zhè xiē rén wèi céng zhān rǎn fù nǚ , tā men yuán shì tóng shēn 。 gāo yáng wú lùn wǎng nǎ lǐ qù , tā men dōu gēn suí tā 。 tā men shì cóng rén jiān mǎi lái de , zuò chū shú de guǒ zǐ guī yǔ shén hé gāo yáng 。

Những kẻ ấy chưa bị ô uế với đàn bà, vì còn trinh khiết. Chiên Con đi đâu, những kẻ nầy theo đó. Những kẻ đó đã được chuộc từ trong loài người, để làm trái đầu mùa cho Đức Chúa Trời và Chiên Con;

zài tā men kǒu zhōng chá bù chū huǎng yán lái ; tā men shì méi yǒu xiá cī de 。

trong miệng chúng chẳng có lời nói dối nào hết, cũng không có dấu vết gì.

使

wǒ yòu kàn jiàn lìng yǒu yí wèi tiān shǐ fēi zài kōng zhōng , yǒu yǒng yuǎn de fú yīn yào chuán gěi zhù zài dì shàng de rén , jiù shì gè guó 、 gè zú 、 gè fāng 、 gè mín 。

Điều ấy đoạn, tôi thấy một vị thiên sứ khác bay giữa trời, có Tin Lành đời đời, đặng rao truyền cho dân cư trên đất, cho mọi nước, mọi chi phái, mọi tiếng, và mọi dân tộc.

:「 耀。」

tā dà shēng shuō :「 yīng dāng jìng wèi shén , jiāng róng yào guī gěi tā ! yīn tā shī xíng shěn pàn de shí hòu yǐ jīng dào le 。 yīng dāng jìng bài nà chuàng zào tiān dì hǎi hé zhòng shuǐ quán yuán de 。」

Người cất tiếng lớn nói rằng: Hãy kính sợ Đức Chúa Trời, và tôn vinh Ngài, vì giờ phán xét của Ngài đã đến; hãy thờ phượng Đấng dựng nên trời, đất, biển và các suối nước.

使:「!」

yòu yǒu dì èr wèi tiān shǐ jiē zhe shuō :「 jiào wàn mín hē xié yín 、 dà nù zhī jiǔ de bā bǐ lún dài chéng qīng dǎo le ! qīng dǎo le !」

Một vị thiên sứ khác, là vị thứ hai, theo sau mà rằng: Ba-by-lôn lớn kia, đã đổ rồi, đã đổ rồi, vì nó có cho các dân tộc uống rượu tà dâm thạnh nộ của nó.

使:「

yòu yǒu dì sān wèi tiān shǐ jiē zhe tā men , dà shēng shuō :「 ruò yǒu rén bài shòu hé shòu xiàng , zài é shàng huò zài shǒu shàng shòu le yìn jì ,

Lại một vị thiên sứ khác, là vị thứ ba, theo sau, nói lớn tiếng mà rằng: Nếu ai thờ phượng con thú cũng tượng nó, và chịu dấu nó ghi trên trán hay trên tay,

忿使

zhè rén yě bì hē shén dà nù de jiǔ ; cǐ jiǔ zhēn zài shén fèn nù de bēi zhōng chún yí bù zá 。 tā yào zài shèng tiān shǐ hé gāo yáng miàn qián , zài huǒ yǔ liú huáng zhī zhōng shòu tòng kǔ 。

thì người ấy cũng vậy, sẽ uống rượu thạnh nộ không pha của Đức Chúa Trời rót trong chén thạnh nộ Ngài; và sẽ chịu đau đớn trong lửa và diêm ở trước mặt các thiên sứ thánh và trước mặt Chiên Con.

。」

tā shòu tòng kǔ de yān wǎng shàng mào , zhí dào yǒng yǒng yuǎn yuǎn 。 nà xiē bài shòu hé shòu xiàng , shòu tā míng zhī yìn jì de , zhòu yè bù dé ān níng 。」

Khói của sự đau đớn chúng nó bay lên đời đời. Những kẻ thờ lạy con thú và tượng nó, cùng những kẻ chịu dấu của tên nó ghi, thì cả ngày lẫn đêm không lúc nào được yên nghỉ.

shèng tú de rěn nài jiù zài cǐ ; tā men shì shǒu shén jiè mìng hé yē sū zhēn dào de 。

Đây tỏ ra sự nhịn nhục của các thánh đồ: chúng giữ điều răn của Đức Chúa Trời và giữ lòng tin Đức Chúa Jêsus.

:「!」:「。」

wǒ tīng jiàn cóng tiān shàng yǒu shēng yīn shuō :「 nǐ yào xiě xià : cóng jīn yǐ hòu , zài zhǔ lǐ miàn ér sǐ de rén yǒu fú le !」 shèng líng shuō :「 shì de , tā men xī le zì jǐ de láo kǔ , zuò gōng de guǒ xiào yě suí zhe tā men 。」

Tôi nghe có tiếng đến từ trên trời rằng: Hãy viết lấy: Từ rày, phước thay cho những người chết là người chết trong Chúa! Đức Thánh Linh phán: Phải, vì những người ấy nghỉ ngơi khỏi sự khó nhọc, và việc làm mình theo sau.

wǒ yòu guān kàn , jiàn yǒu yí piàn bái yún , yún shàng zuò zhe yí wèi hǎo xiàng rén zǐ , tóu shàng dài zhe jīn guān miǎn , shǒu lǐ ná zhe kuài lián dāo 。

Tôi nhìn xem, thấy một đám mây trắng; có kẻ giống như một con người ngồi trên mây, đầu đội mão triều thiên vàng, tay cầm lưỡi liềm bén.

使殿:「。」

yòu yǒu yí wèi tiān shǐ cóng diàn zhōng chū lái , xiàng nà zuò zài yún shàng de dà shēng hǎn zhe shuō :「 shēn chū nǐ de lián dāo lái shōu gē ; yīn wèi shōu gē de shí hòu yǐ jīng dào le , dì shàng de zhuāng jia yǐ jīng shú tòu le 。」

Có một thiên sứ khác ở đền thờ đi ra, cất tiếng lớn kêu Đấng ngồi trên mây rằng: Hãy quăng lưỡi liềm xuống và gặt đi; vì giờ gặt hái đã đến, mùa màng dưới đất đã chín rồi.

nà zuò zài yún shàng de , jiù bǎ lián dāo rēng zài dì shàng , dì shàng de zhuāng jia jiù bèi shōu gē le 。

Đấng ngồi trên mây bèn quăng lưỡi liềm mình xuống đất, và dưới đất đều bị gặt.

使殿

yòu yǒu yí wèi tiān shǐ cóng tiān shàng de diàn zhōng chū lái , tā yě ná zhe kuài lián dāo 。

Một vị thiên sứ khác ở đền thờ trên trời đi ra, cũng cầm một cái lưỡi liềm bén.

使:「!」

yòu yǒu yí wèi tiān shǐ cóng jì tán zhōng chū lái , shì yǒu quán bǐng guǎn huǒ de , xiàng ná zhe kuài lián dāo de dà shēng hǎn zhe shuō :「 shēn chū kuài lián dāo lái , shōu qǔ dì shàng pú táo shù de guǒ zǐ , yīn wèi pú táo shú tòu le !」

Rồi một vị thiên sứ khác nữa có quyền cai trị lửa, từ bàn thờ đi ra, lấy tiếng lớn kêu vị thiên sứ cầm lưỡi liềm bén mà rằng: Hãy quăng lưỡi liềm bén của ngươi xuống và hái những chùm nho ở dưới đất đi, vì nho đã chín rồi.

使 忿

nà tiān shǐ jiù bǎ lián dāo rēng zài dì shàng , shōu qǔ le dì shàng de pú táo , diū zài shén fèn nù de dà jiǔ zhà zhōng 。

Thiên sứ quăng lưỡi liềm xuống đất, cắt vườn nho ở đất và ném nho vào thùng lớn thạnh nộ của Đức Chúa Trời.

nà jiǔ zhà chuài zài chéng wài , jiù yǒu xuè cóng jiǔ zhà lǐ liú chū lái , gāo dào mǎ de jiáo huán , yuǎn yǒu liù bǎi lǐ 。

Thùng ấy phải giày đạp tại ngoài thành; rồi có huyết ở thùng chảy ra, huyết đó lên đến chỗ khớp ngựa, dài một quãng là một ngàn sáu trăm dặm.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.