中文圣经

I SA-MU-ÊN 9

đã biết 0/282

便便

yǒu yí gè biàn yǎ mǐn rén , míng jiào jī shì , shì biàn yǎ mǐn rén yà fěi yà de xuán sūn , bǐ gē lā de zēng sūn , xǐ luó de sūn zi , yà bié de ér zi , shì gè dà néng de yǒng shì 。

Bấy giờ, có một người Bên-gia-min, tên là Kích, con trai A-bi-ên, cháu Xê-rô, chắt Bê-cô-rát, chít A-phi-ác, là con trai của một người Bên-gia-min. Kích vốn một người dõng sĩ,

tā yǒu yí gè ér zi , míng jiào sǎo luó , yòu jiàn zhuàng 、 yòu jùn měi , zài yǐ sè liè rén zhōng méi yǒu yí gè néng bǐ tā de ; shēn tǐ bǐ zhòng mín gāo guò yì tóu 。

có một con trai, tên là Sau-lơ, còn trẻ và lịch sự. Trong dân Y-sơ-ra-ên chẳng ai lịch sự bằng người; người cao hơn cả dân sự từ vai trở lên.

:「。」

sǎo luó de fù qīn jī shì diū le jǐ tóu lǘ , tā jiù fēn fù ér zi sǎo luó shuō :「 nǐ dài yí gè pú rén qù xún zhǎo lǘ 。」

Một ngày kia, những lừa cái của Kích, cha Sau-lơ, bị lạc. Kích nói cùng Sau-lơ, con trai mình, rằng: Hãy đem theo một tôi tớ, đi tìm những lừa cái.

便

sǎo luó jiù zǒu guò yǐ fǎ lián shān dì , yòu guò shā lì shā dì , dōu méi yǒu zhǎo zhe ; yòu guò shā lín dì , lǘ yě bú zài nà lǐ ; yòu guò biàn yǎ mǐn dì , hái méi yǒu zhǎo zhe 。

Người đi khắp núi Eùp-ra-im, khắp xứ Sa-li-sa, mà không tìm được; lại trải qua xứ Sa-lim, xứ Bên-gia-min, song cũng không gặp.

:「。」

dào le sū fú dì , sǎo luó duì gēn suí tā de pú rén shuō :「 wǒ men bù rú huí qù , kǒng pà wǒ fù qīn bú wèi lǘ guà xīn , fǎn wèi wǒ men dān yōu 。」

Đến trong xứ Xu-phơ, Sau-lơ nói cùng tôi tớ theo mình, rằng; Nầy chúng ta hãy trở về, kẻo cha ta đã đành mất lừa, lại lo cho chúng ta chăng.

:「。」

pú rén shuō :「 zhè chéng lǐ yǒu yí wèi shén rén , shì zhòng rén suǒ zūn zhòng de , fán tā suǒ shuō de quán dōu yìng yàn 。 wǒ men bù rú wǎng tā nà lǐ qù , huò zhě tā néng jiāng wǒ men dāng zǒu de lù zhǐ shì wǒ men 。」

Kẻ tôi tớ đáp cùng Sau-lơ rằng: Hãy nghe, trong thành nầy có một người của Đức Chúa Trời, là người rất tôn trọng; mọi sự người nói trước điều ứng nghiệm chẳng sai. Vậy, chúng ta hãy đi đến đó. Có lẽ người sẽ chỉ cho chúng ta con đường phải nương theo.

:「?」

sǎo luó duì pú rén shuō :「 wǒ men ruò qù , yǒu shén me kě yǐ sòng nà rén ne ? wǒ men náng zhōng de shí wù dōu chī jìn le , yě méi yǒu lǐ wù kě yǐ sòng nà shén rén , wǒ men hái yǒu shén me méi yǒu ?」

Sau-lơ nói cùng kẻ tôi tớ mình, rằng: Phải, chúng ta hãy đi đó. Nhưng chúng ta phải lấy gì mà dâng cho người? Các bao chúng ta đều hết lương thực, và chúng ta chẳng còn một lễ vật nào để dâng cho người của Đức Chúa Trời! Chúng ta còn chi?

:「。」(

pú rén huí dá sǎo luó shuō :「 wǒ shǒu lǐ yǒu yín zi yí shè kè lè de sì fēn zhī yī , kě yǐ sòng nà shén rén , qǐng tā zhǐ shì wǒ men dāng zǒu de lù 。」(

Kẻ tôi tớ tiếp rằng: Tôi có trong mình một phần tư siếc-lơ bạc; tôi sẽ dâng bạc đó cho người của Đức Chúa Trời, rồi người sẽ chỉ đường cho chúng ta.

:「!」」。)

cóng qián yǐ sè liè zhōng , ruò yǒu rén qù wèn shén , jiù shuō :「 wǒ men wèn xiān jiàn qù ba !」 xiàn zài chēng wéi 「 xiān zhī 」 de , cóng qián chēng wéi 「 xiān jiàn 」。)

(Thuở xưa, trong Y-sơ-ra-ên, hễ người ta đi cầu vấn Đức Chúa Trời, thì thường nói rằng: Chúng ta hãy đi tìm người tiên kiến; vì người mà thiên hạ ngày nay gọi là tiên tri, ngày xưa gọi là người tiên kiến).

:「。」

sǎo luó duì pú rén shuō :「 nǐ shuō de shì , wǒ men kě yǐ qù 。」 yú shì tā men wǎng shén rén suǒ zhù de chéng lǐ qù le 。

Sau-lơ nói cùng kẻ tôi tớ rằng: Ngươi nói phải; chúng ta hãy đi. Hai người bèn đi đến thành người của Đức Chúa Trời ở.

:「?」

tā men shàng pō yào jìn chéng , jiù yù jiàn jǐ gè shào nián nǚ zǐ chū lái dǎ shuǐ , wèn tā men shuō :「 xiān jiàn zài zhè lǐ méi yǒu ?」

Khi hai người đi lên đường dốc về thành, thì gặp những con gái trẻ đi ra múc nước, bèn hỏi rằng: Đấng tiên kiến có đây chăng?

:「

nǚ zǐ huí dá shuō :「 zài zhè lǐ , tā zài nǐ men qián miàn 。 kuài qù ba ! tā jīn rì zhèng dào chéng lǐ , yīn wèi jīn rì bǎi xìng yào zài qiū tán xiàn jì 。

Các con gái trẻ đáp rằng: Có, kìa người ở đằng trước mặt ông. Nhưng hãy đi mau, vì ngày nay người đến thành, bởi bá tánh có việc tế lễ tại nơi cao.

。」

zài tā hái méi yǒu shàng qiū tán chī jì wù zhī xiān , nǐ men yí jìn chéng bì yù jiàn tā ; yīn tā wèi dào , bǎi xìng bù néng chī , bì děng tā xiān zhù jì , rán hòu qǐng de kè cái chī 。 xiàn zài nǐ men shàng qù , zhè shí hòu bì yù jiàn tā 。」

Khi vào thành, hai ông chắc sẽ gặp người trước khi chưa lên nơi cao đặng dự lễ. Bá tánh không ăn trước khi người đến, vì người phải chúc phước cho của lễ; xong rồi, các người dự tiệc mới ăn. Vậy, hãy đi lên, nội ngày nay hai ông chắc sẽ gặp người.

èr rén jiù shàng qù ; jiāng jìn chéng de shí hòu , sā mǔ ěr zhèng yíng zhe tā men lái , yào shàng qiū tán qù 。

Hai người đi lên thành; khi vừa vào thành, bèn gặp Sa-mu-ên đi ra đặng lên nơi cao.

sǎo luó wèi dào de qián yí rì , yē hé huá yǐ jīng zhǐ shì sā mǔ ěr shuō :

Vả, ngày trước khi Sau-lơ đến, Đức Giê-hô-va đã tỏ ra cho Sa-mu-ên, mà rằng:

使便。」

「 míng rì zhè shí hòu , wǒ bì shǐ yí gè rén cóng biàn yǎ mǐn dì dào nǐ zhè lǐ lái , nǐ yào gāo tā zuò wǒ mín yǐ sè liè de jūn 。 tā bì jiù wǒ mín tuō lí fēi lì shì rén de shǒu ; yīn wǒ mín de āi shēng shàng dá yú wǒ , wǒ jiù juàn gù tā men 。」

Ngày mai, tại giờ nầy, ta sẽ sai một người ở xứ Bên-gia-min đến cùng ngươi, ngươi sẽ xức dầu cho người làm vua của dân Y-sơ-ra-ên ta. Người sẽ giải cứu dân ta khỏi tay dân Phi-li-tin; vì ta đã đoái xem dân ta, và tiếng của chúng đã thấu đến ta.

:「。」

sā mǔ ěr kàn jiàn sǎo luó de shí hòu , yē hé huá duì tā shuō :「 kàn nǎ , zhè rén jiù shì wǒ duì nǐ suǒ shuō de , tā bì zhì lǐ wǒ de mín 。」

Khi Sa-mu-ên thấy Sau-lơ, Đức Giê-hô-va phán cùng người rằng: Kìa là người mà ta đã bảo ngươi; ấy người sẽ quản trị dân ta.

:「?」

sǎo luó zài chéng mén lǐ zǒu dào sā mǔ ěr gēn qián , shuō :「 qǐng gào sù wǒ , xiān jiàn de yù suǒ zài nǎ lǐ ?」

Sau-lơ đến gần Sa-mu-ên tại cửa thành mà nói cùng người rằng: Xin ông hãy chỉ cho tôi nhà của đấng tiên kiến.

:「

sā mǔ ěr huí dá shuō :「 wǒ jiù shì xiān jiàn 。 nǐ zài wǒ qián miàn shàng qiū tán qù , yīn wèi nǐ men jīn rì bì yǔ wǒ tóng xí ; míng rì zǎo chén wǒ sòng nǐ qù , jiāng nǐ xīn lǐ de shì dōu gào sù nǐ 。

Sa-mu-ên đáp cùng Sau-lơ rằng: Ta là đấng tiên kiến đây. Hãy đi trước ta lên nơi cao. Ngày nay hai ngươi sẽ ăn bữa cùng ta; đến mai ta sẽ tỏ cho ngươi mọi điều trong lòng ngươi, đoạn để ngươi đi.

?」

zhì yú nǐ qián sān rì suǒ diū de nà jǐ tóu lǘ , nǐ xīn lǐ bú bì guà niàn , yǐ jīng zhǎo zhe le 。 yǐ sè liè zhòng rén suǒ yǎng mù de shì shuí ne ? bú shì yǎng mù nǐ hé nǐ fù de quán jiā ma ?」

Còn những lừa cái mà ngươi đã mất ba ngày nay, chớ lo lắng về chúng nó; vì đã kiếm được rồi. Vả lại, mọi vật quí trọng hơn hết trong Y-sơ-ra-ên đã dành cho ai? Há chẳng phải cho ngươi và cho cả nhà của cha ngươi sao?

:「便便?」

sǎo luó shuō :「 wǒ bú shì yǐ sè liè zhī pài zhōng zhì xiǎo de biàn yǎ mǐn rén ma ? wǒ jiā bú shì biàn yǎ mǐn zhī pài zhōng zhì xiǎo de jiā ma ? nǐ wèi hé duì wǒ shuō zhè yàng de huà ne ?」

Sau-lơ đáp: Tôi chỉ là một người Bên-gia-min, là một chi phái nhỏ hơn hết trong Y-sơ-ra-ên; nhà tôi lại là hèn mọn hơn hết các nhà của chi phái Bên-gia-min. Nhân sao ông nói với tôi giọng như vậy.

使

sā mǔ ěr lǐng sǎo luó hé tā pú rén jìn le kè táng , shǐ tā men zài qǐng lái de kè zhōng zuò shǒu wèi ; kè yuē yǒu sān shí gè rén 。

Sa-mu-ên dẫn Sau-lơ và kẻ tôi tớ người vào phòng, rồi mời ngồi chỗ thứ nhất trong các người dự tiệc, số chừng ba mươi người.

:「。」

sā mǔ ěr duì chú yì shuō :「 wǒ jiāo gěi nǐ shōu cún de nà yì fēn jì ròu xiàn zài kě yǐ ná lái 。」

Bấy giờ, Sa-mu-ên nói cùng đầu bếp rằng: Hãy bưng phần ta đã trao cho ngươi, và ta đã dặn để riêng ra.

:「。」

chú yì jiù bǎ shōu cún de tuǐ ná lái , bǎi zài sǎo luó miàn qián , sā mǔ ěr shuō :「 zhè shì suǒ liú xià de , fàng zài nǐ miàn qián 。 chī ba ! yīn wǒ qǐng bǎi xìng de shí hòu , tè yì wèi nǐ cún liú zhè ròu dào cǐ shí 。」 dāng rì , sǎo luó jiù yǔ sā mǔ ěr tóng xí 。

Đầu bếp lấy chả vai và miếng bọc chung quanh, đem dọn cho Sau-lơ, Sa-mu-ên tiếp rằng: Kìa, miếng đã để dành cho ngươi ở trước mặt ngươi; hãy ăn đi, từ khi ta định mời dân sự, ta đã giữ nó lại về tiệc nầy. Vậy, trong ngày đó, Sau-lơ ăn bữa cùng Sa-mu-ên.

zhòng rén cóng qiū tán xià lái jìn chéng , sā mǔ ěr hé sǎo luó zài fáng dǐng shàng shuō huà 。

Đoạn, chúng đều xuống khỏi nơi cao, vào trong thành; còn Sa-mu-ên trò chuyện cùng Sau-lơ trên mái nhà.

:「。」

cì rì qīng zǎo qǐ lái , lí míng de shí hòu , sǎo luó zài fáng dǐng shàng 。 sā mǔ ěr hū jiào tā shuō :「 qǐ lái ba , wǒ hǎo sòng nǐ huí qù 。」 sǎo luó jiù qǐ lái , hé sā mǔ ěr yì tóng chū qù 。

Qua ngày sau, hai người dậy sớm; khi hừng đông, Sa-mu-ên gọi Sau-lơ trên mái nhà mà nói rằng: Hãy đứng dậy, ta sẽ đưa ngươi đi. Sau-lơ đứng dậy, rồi Sa-mu-ên và Sau-lơ cả hai đồng đi ra.

:「); 。」

èr rén xià dào chéng jiǎo , sā mǔ ěr duì sǎo luó shuō :「 yào fēn fù pú rén xiān zǒu ( pú rén jiù xiān zǒu le ); nǐ qiě zhàn zài zhè lǐ , děng wǒ jiāng shén de huà chuán yǔ nǐ tīng 。」

Khi đến đầu thành, Sa-mu-ên nói cùng Sau-lơ rằng: Hãy truyền cho kẻ tôi tớ đi trước chúng ta. Kẻ tôi tớ bèn đi trước. Người tiếp rằng: Bây giờ, hãy dừng lại để ta nói cho ngươi nghe lời của Đức Chúa Trời.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.