中文圣经

II LỊCH SỬ 12

đã biết 0/194

luó bō ān de guó jiān lì , tā qiáng shèng de shí hòu jiù lí qì yē hé huá de lǜ fǎ , yǐ sè liè rén yě dōu suí cóng tā 。

Xảy khi nước của Rô-bô-am vừa được lập vững bền, và người được cường thạnh, thì người và cả Y-sơ-ra-ên liền bỏ luật pháp của Đức Giê-hô-va.

luó bō ān wáng dì wǔ nián , āi jí wáng shì sā shàng lái gōng dǎ yē lù sā lěng , yīn wèi wáng hé mín dé zuì le yē hé huá 。

Vì chúng có phạm tội cùng Đức Giê-hô-va, nên xảy ra trong năm thứ năm đời vua Rô-bô-am, Si-sắc, vua Ê-díp-tô, kéo lên hãm đánh Giê-ru-sa-lem;

shì sā dài zhàn chē yì qiān èr bǎi liàng , mǎ bīng liù wàn , bìng qiě gēn cóng tā chū āi jí de lù bǐ rén 、 sū jī rén , hé gǔ shí rén , duō dé bù kě shèng shǔ 。

có dẫn theo một ngàn hai trăm cỗ xe và sáu vạn lính kỵ; lại có dân Li-by, dân Su-ri, và dân Ê-thi-ô-bi từ Ê-díp-tô kéo lên với người, số không thể đếm đặng.

tā gōng qǔ le yóu dà de jiān gù chéng , jiù lái dào yē lù sā lěng 。

Si-sắc bèn chiếm lấy các thành bền vững thuộc về Giu-đa, rồi đến tận Giê-ru-sa-lem.

:「:『使。』」

nà shí , yóu dà de shǒu lǐng yīn wèi shì sā jiù jù jí zài yē lù sā lěng 。 yǒu xiān zhī shì mǎ yǎ qù jiàn luó bō ān hé zhòng shǒu lǐng , duì tā men shuō :「 yē hé huá rú cǐ shuō :『 nǐ men lí qì le wǒ , suǒ yǐ wǒ shǐ nǐ men luò zài shì sā shǒu lǐ 。』」

Tiên tri Sê-ma-gia đến cùng Rô-bô-am và các kẻ làm đầu Giu-đa, đang nhóm tại Giê-ru-sa-lem để trốn khỏi Si-sắc, mà nói rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Các ngươi đã bỏ ta, nên ta cũng đã bỏ các ngươi vào tay Si-sắc.

:「。」

yú shì wáng hé yǐ sè liè de zhòng shǒu lǐng dōu zì bēi shuō :「 yē hé huá shì gōng yì de 。」

Bấy giờ, các kẻ làm đầu của Y-sơ-ra-ên và vua đều hạ mình xuống, mà nói rằng: Đức Giê-hô-va là công bình.

:「使

yē hé huá jiàn tā men zì bēi , yē hé huá de huà jiù lín dào shì mǎ yǎ shuō :「 tā men jì zì bēi , wǒ bì bú miè jué tā men ; bì shǐ tā men lüè dé zhěng jiù , wǒ bú jiè zhe shì sā de shǒu jiāng wǒ de nù qì dǎo zài yē lù sā lěng 。

Khi Đức Giê-hô-va thấy chúng hạ mình xuống, thì có lời Đức Giê-hô-va phán cùng Sê-ma-gia rằng: Chúng nó đã hạ mình xuống, ta sẽ không hủy diệt chúng nó; song sẽ giải cứu chúng một chút, và cơn giận ta sẽ chẳng cậy tay Si-sắc mà đổ ra trên Giê-ru-sa-lem;

。」

rán ér tā men bì zuò shì sā de pú rén , hǎo jiào tā men zhī dào , fú shì wǒ yǔ fú shì wài bāng rén yǒu hé fēn bié 。」

song chúng nó sẽ bị phục dịch hắn, hầu cho biết phục sự ta và phục dịch nước khác là có phân biệt thể nào.

殿

yú shì , āi jí wáng shì sā shàng lái gōng qǔ yē lù sā lěng , duó le yē hé huá diàn hé wáng gōng lǐ de bǎo wù , jìn dōu dài zǒu , yòu duó qù suǒ luó mén zhì zào de jīn dùn pái 。

Si-sắc, vua Ê-díp-tô, kéo lên hãm đánh Giê-ru-sa-lem, đoạt lấy các bửu vật của đền Đức Giê-hô-va và cung vua: người đoạt lấy hết thảy; cũng đoạt lấy những khiên bằng vàng mà Sa-lô-môn đã làm.

luó bō ān wáng zhì zào tóng dùn pái dài tì nà jīn dùn pái , jiāo gěi shǒu wáng gōng mén de hù wèi cháng kān shǒu 。

Vua Rô-bô-am bèn làm những khiên bằng đồng thế cho, và giao nơi tay các quan chánh thị vệ canh giữ cửa của cung điện vua.

殿

wáng měi féng jìn yē hé huá de diàn , hù wèi bīng jiù ná zhè dùn pái , suí hòu réng jiāng dùn pái sòng huí , fàng zài hù wèi fáng 。

Hễ khi nào vua vào trong đền của Đức Giê-hô-va, thì các quan thị vệ cầm khiên đến, đoạn đem nó lại vào phòng của quan thị vệ.

wáng zì bēi de shí hòu , yē hé huá de nù qì jiù zhuǎn xiāo le , bù jiāng tā miè jìn , bìng qiě zài yóu dà zhōng jiān yě yǒu shàn yì de shì 。

Khi vua hạ mình xuống, cơn giận của Đức Giê-hô-va lánh khỏi người, không diệt hết thảy; và lại trong Giu-đa còn có sự lành.

luó bō ān wáng zì qiáng , zài yē lù sā lěng zuò wáng 。 tā dēng jī de shí hòu nián sì shí yī suì , zài yē lù sā lěng , jiù shì yē hé huá cóng yǐ sè liè zhòng zhī pài zhōng suǒ xuǎn zé lì tā míng de chéng , zuò wáng shí qī nián 。 luó bō ān de mǔ qīn míng jiào ná mǎ , shì yà mén rén 。

Aáy vậy vua Rô-bô-am làm cho mình ra bền vững trong Giê-ru-sa-lem và trị vì. Vả khi Rô-bô-am lên ngôi, tuổi đã bốn mươi mốt; người cai trị mười bảy năm tại Giê-ru-sa-lem, tức là thành mà Đức Giê-hô-va đã chọn trong các chi phái Y-sơ-ra-ên, đặng đặt danh Ngài tại đó; còn mẹ người tên là Na-a-ma, người đàn bà Am-môn.

luó bō ān xíng è , yīn tā bú lì dìng xīn yì xún qiú yē hé huá 。

Rô-bô-am làm điều ác, vì không rắp lòng tìm cầu Đức Giê-hô-va.

luó bō ān suǒ xíng de shì , zì shǐ zhì zhōng bù dōu xiě zài xiān zhī shì mǎ yǎ hé xiān jiàn yì duō de shǐ jì shàng ma ? luó bō ān yǔ yē luó bō ān shí cháng zhēng zhàn 。

Các công việc của Rô-bô-am từ đầu đến cuối, đều đã chép trong sách truyện của Sê-ma-gia, đấng tiên tri, trong sách Y-đô, đấng tiên kiến, luận về gia phổ. Rô-bô-am và Giê-rô-bô-am hằng đánh giặc với nhau luôn luôn.

luó bō ān yǔ tā liè zǔ tóng shuì , zàng zài dà wèi chéng lǐ 。 tā ér zi yà bǐ yǎ jiē xù tā zuò wáng 。

Rô-bô-am an giấc cùng tổ phụ mình, được chôn trong thành Đa-vít; A-bi-gia, con trai người, cai trị thế cho người.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.