中文圣经

II LỊCH SỬ 13

đã biết 0/267

yē luó bō ān wáng shí bā nián , yà bǐ yǎ dēng jī zuò yóu dà wáng ,

Năm thứ mười tám đời vua Giê-rô-bô-am, A-bi-gia lên ngôi làm vua Giu-đa.

zài yē lù sā lěng zuò wáng sān nián 。 tā mǔ qīn míng jiào mǐ gāi yà , shì jī bǐ yà rén wū liè de nǚ ér 。 yà bǐ yǎ cháng yǔ yē luó bō ān zhēng zhàn 。

Người cai trị ba năm tại Giê-ru-sa-lem; tên mẹ người là Mi-ca-gia, con gái của U-ri-ên ở Ghi-bê-a. A-bi-gia và Giê-rô-bô-am đánh giặc với nhau.

yǒu yí cì yà bǐ yǎ shuài lǐng tiāo xuǎn de bīng sì shí wàn bǎi zhèn , dōu shì yǒng gǎn de zhàn shì ; yē luó bō ān yě tiāo xuǎn dà néng de yǒng shì bā shí wàn , duì yà bǐ yǎ bǎi zhèn 。

A-bi-gia ra trận với một đạo chiến sĩ, bốn mươi vạn người kén chọn; còn Giê-rô-bô-am dàn trận đối với người, có tám mươi vạn người kén chọn, là lính chiến mạnh dạn.

:「

yà bǐ yǎ zhàn zài yǐ fǎ lián shān dì zhōng de xǐ mǎ liǎn shān shàng , shuō :「 yē luó bō ān hé yǐ sè liè zhòng rén nǎ , yào tīng wǒ shuō !

A-bi-gia đứng trên núi Xê-ma-ra-im trong miền núi Eùp-ra-im, mà nói rằng: Hỡi Giê-rô-bô-am và cả Y-sơ-ra-ên, khá nghe!

yē hé huá — yǐ sè liè de shén céng lì yán yuē , jiāng yǐ sè liè guó yǒng yuǎn cì gěi dà wèi hé tā de zǐ sūn , nǐ men bù zhī dào ma ?

Bởi sự giao ước bằng muối, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã ban nước Y-sơ-ra-ên cho Đa-vít và cho các con trai người đến đời đời, các ngươi há chẳng biết sao?

wú nài dà wèi ér zǐ suǒ luó mén de chén pú 、 ní bā ér zi yē luó bō ān qǐ lái bèi pàn tā de zhǔ rén 。

Dẫu vậy, Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, tôi tớ của Sa-lô-môn, là con trai của Đa-vít, bèn chổi dậy phản nghịch cùng Chúa mình;

yǒu xiē wú lài de fěi tú jù jí gēn cóng tā , chěng qiáng gōng jī suǒ luó mén de ér zi luó bō ān ; nà shí luó bō ān hái yòu ruò , bù néng dǐ dǎng tā men 。

những kẻ du đãng, đồ phàm hèn, đều hiệp lại theo người chúng nó tự làm mình ra mạnh, nghịch với Rô-bô-am, con trai của Sa-lô-môn; còn Rô-bô-am thì trẻ tuổi, nhát gan, không chống cự nổi chúng nó.

「 xiàn zài nǐ men yǒu yì kàng jù dà wèi zǐ sūn shǒu xià suǒ zhì yē hé huá de guó , nǐ men de rén yě shèn duō , nǐ men nà lǐ yòu yǒu yē luó bō ān wèi nǐ men suǒ zào dàng zuò shén de jīn niú dú 。

Vậy bây giờ, các ngươi tưởng rằng các ngươi sẽ chống cự nổi nước của Đức Giê-hô-va đã ban cho các con trai của Đa-vít, các ngươi một đoàn đông lớn, có đem theo bò con vàng mà Giê-rô-bô-am đã đúc làm thần của các ngươi.

nǐ men bú shì qū zhú yē hé huá de jì sī yà lún de hòu yì hé lì wèi rén ma ? bú shì zhào zhe wài bāng rén de è sú wèi zì jǐ lì jì sī ma ? wú lùn hé rén qiān yì zhī gōng niú dú 、 qī zhī gōng mián yáng jiāng zì jǐ fēn bié chū lái , jiù kě zuò xū wú zhī shén de jì sī 。

Các ngươi há chẳng có đuổi những thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va, là con cháu A-rôn, và người Lê-vi sao? Các ngươi có theo phong tục của các dân ngoại mà lập lấy những thầy tế lễ cho mình; phàm ai đến đem một con bò đực tơ và bảy con chiên đực đặng dâng làm lễ, thì được làm thầy tế lễ của những thần hư không.

zhì yú wǒ men , yē hé huá shì wǒ men de shén , wǒ men bìng méi yǒu lí qì tā 。 wǒ men yǒu shì fèng yē hé huá de jì sī , dōu shì yà lún de hòu yì , bìng yǒu lì wèi rén gè jìn qí zhí ,

Nhưng về phần chúng ta, Giê-hô-va vẫn là Đức Chúa Trời của chúng ta, chúng ta chẳng có lìa bỏ Ngài; những thầy tế lễ, là con cháu của A-rôn, đều phục sự Đức Giê-hô-va, và các người Lê-vi giữ phần việc của họ;

měi rì zǎo wǎn xiàng yē hé huá xiàn fán jì , shāo měi xiāng , yòu zài jīng jīn de zhuō zǐ shàng bǎi chén shè bǐng ; yòu yǒu jīn dēng tái hé dēng zhǎn , měi wǎn diǎn qǐ , yīn wèi wǒ men zūn shǒu yē hé huá — wǒ men shén de mìng ; wéi yǒu nǐ men lí qì le tā 。

mỗi buổi sớm mai và buổi chiều, chúng xông của lễ thiêu và thuốc thơm cho Đức Giê-hô-va; chúng cũng sắp bánh trần thiết trên bàn sạch sẽ, thắp các đèn của chân đèn vàng để nó cháy mỗi buổi chiều tối; vì chúng ta vâng giữ làm theo mạng lịnh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, còn các ngươi lại bỏ đi.

。」

shuài lǐng wǒ men de shì shén , wǒ men zhè lǐ yě yǒu shén de jì sī ná hào xiàng nǐ men chuī chū dà shēng 。 yǐ sè liè rén nǎ , bú yào yǔ yē hé huá — nǐ men liè zǔ de shén zhēng zhàn , yīn nǐ men bì bù néng hēng tōng 。」

Nầy, Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta, làm đầu chúng ta, và những thầy tế lễ của Ngài cầm những kèn tiếng vang đặng thổi lên nghịch cùng các ngươi. Hỡi con cái Y-sơ-ra-ên! chớ tranh chiến cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi, vì chẳng thắng được đâu!

yē luó bō ān què zài yóu dà rén de hòu tou shè fú bīng 。 zhè yàng , yǐ sè liè rén zài yóu dà rén de qián tou , fú bīng zài yóu dà rén de hòu tou 。

Nhưng Giê-rô-bô-am truyền binh phục đi vòng đặng đến phía sau chúng vậy quân Y-sơ-ra-ên ở đằng trước quân Giu-đa còn binh phục ở đằng sau.

yóu dà rén huí tóu guān kàn , jiàn qián hòu dōu yǒu dí bīng , jiù hū qiú yē hé huá , jì sī yě chuī hào 。

Giu-đa xây ngó lại, kìa, giặc đã có phía trước và phía sau, bèn kêu cầu cùng Đức giê-hô-va, và những thầy tế lễ thổi kèn.

使

yú shì yóu dà rén nà hǎn ; yóu dà rén nà hǎn de shí hòu , shén jiù shǐ yē luó bō ān hé yǐ sè liè zhòng rén bài zài yà bǐ yǎ yǔ yóu dà rén miàn qián 。

Bấy giờ người Giu-đa kêu la lên; xảy khi người Giu-đa kêu la, thì Đức Giê-hô-va đánh Giê-rô-bô-am và cả Y-sơ-ra-ên tại trước mặt A-bi-gia và dân Giu-đa.

yǐ sè liè rén zài yóu dà rén miàn qián táo pǎo , shén jiāng tā men jiāo zài yóu dà rén shǒu lǐ 。

Dân Y-sơ-ra-ên chạy trốn trước mặt dân Giu-đa, và Đức Chúa Trời phó chúng nó vào tay dân Giu-đa.

yà bǐ yǎ hé tā de jūn bīng dà dà shā lù yǐ sè liè rén , yǐ sè liè rén pú dǎo sǐ wáng de jīng bīng yǒu wǔ shí wàn 。

A-bi-gia và quân lính người làm cho chúng bị thua trận cả thể, có năm mươi vạn tinh binh của Y-sơ-ra-ên bị thương ngã chết.

nà shí , yǐ sè liè rén bèi zhì fú le , yóu dà rén dé shèng , shì yīn yǐ kào yē hé huá — tā men liè zǔ de shén 。

Như vậy, trong lúc ấy, dân Y-sơ-ra-ên bị sỉ nhục, còn dân Giu-đa được thắng hơn, vì chúng nhờ cậy nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ.

yà bǐ yǎ zhuī gǎn yē luó bō ān , gōng qǔ le tā de jǐ zuò chéng , jiù shì bó tè lì hé shǔ bó tè lì de zhèn shì , yē shā ná hé shǔ yē shā ná de zhèn shì , yǐ fǎ lā yīn hé shǔ yǐ fǎ lā yīn de zhèn shì 。

A-bi-gia đuổi theo Giê-rô-bô-am, chiếm lấy những thành, là Bê-tên và các hương thôn nó; Giê-sa-na và các hương thôn nó; Eùp-rôn và các hương thôn nó.

yà bǐ yǎ zài shì de shí hòu , yē luó bō ān bù néng zài qiáng shèng ; yē hé huá gōng jī tā , tā jiù sǐ le 。

Trong lúc A-bi-gia còn sống, Giê-rô-bô-am chẳng được cường thạnh lại; Đức Giê-hô-va hành hại người, thì người chết.

yà bǐ yǎ què jiàn jiàn qiáng shèng , qǔ qī qiè shí sì gè , shēng le èr shí èr gè ér zi , shí liù gè nǚ ér 。

Còn A-bi-gia được cường thạnh, cưới mười bốn người vợ, sanh được hai mươi hai con trai và mười sáu con gái.

yà bǐ yǎ qí yú de shì hé tā de yán xíng dōu xiě zài xiān zhī yì duō de chuán shàng 。

Các công sự khác của A-bi-gia, những việc làm và lời nói của người, đều chép trong sách truyện của tiên tri Y-đô.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.