中文圣经

II LỊCH SỬ 23

đã biết 0/250

西

dì qī nián , yē hé yē dà fèn yǒng zì qiáng , jiāng bǎi fū zhǎng yē luó hǎn de ér zi yà sā lì yǎ , yuē hā nán de ér zi yǐ shí mǎ lì , é bèi dé de ér zi yà sā lì yǎ , yà dà yǎ de ér zi mǎ xī yǎ , xì jī lì de ér zi yǐ lì shā fǎ zhào lái , yǔ tā men lì yuē 。

Năm thứ bảy, Giê-hô-gia-đa làm cho mình nên mạnh, vời các quan tướng cai trăm người, là A-xa-ria, con trai của Giê-rô-ham, ỗch-ma-ên, con trai của Giô-ha-nan, A-xa-ria, con trai của Ô-bết, Ma-a-xê-gia, con trai của A-đa-gia, và Ê-li-sa-phát, con trai của Xiếc-ri, và lập giao ước với các người ấy.

tā men zǒu biàn yóu dà , cóng yóu dà gè chéng lǐ zhāo jù lì wèi rén hé yǐ sè liè de zhòng zú zhǎng dào yē lù sā lěng lái 。

Những người ấy đi khắp xứ Giu-đa, và từ các thành Giu-đa nhóm người Lê-vi và các trưởng tộc của Y-sơ-ra-ên; rồi họ đều đến Giê-ru-sa-lem.

殿:「」;

huì zhòng zài shén diàn lǐ yǔ wáng lì yuē 。 yē hé yē dà duì tā men shuō :「 kàn nǎ , wáng de ér zi bì dàng zuò wáng , zhèng rú yē hé huá zhǐ zhe dà wèi zǐ sūn suǒ yīng xǔ de huà 」;

Cả hội chúng đều lập giao ước với vua tại trong đền thờ của Đức Chúa Trời. Giê-hô-gia-đa nói với chúng rằng: Nầy con trai của vua sẽ cai trị theo lời Đức Giê-hô-va đã phán về con cháu Đa-vít.

:「

yòu shuō :「 nǐ men dāng zhè yàng xíng : jì sī hé lì wèi rén fán ān xī rì jìn bān de , sān fēn zhī yī yào bǎ shǒu gè mén ,

Nầy điều các ngươi sẽ làm: Một phần ba trong các ngươi, tức những thầy tế lễ và người Lê-vi, đến phiên trong ngày sa-bát, sẽ giữ cửa;

殿

sān fēn zhī yī yào zài wáng gōng , sān fēn zhī yī yào zài jī zhǐ mén ; zhòng bǎi xìng yào zài yē hé huá diàn de yuàn nèi 。

một phần ba sẽ vào trong cung vua, và một phần ba ở nơi cửa Giê-sốt; còn cả dân sự sẽ ở nơi hành lang của đền Đức Giê-hô-va.

殿

chú le jì sī hé gòng zhí de lì wèi rén zhī wài , bù zhǔn bié rén jìn yē hé huá de diàn ; wéi dú tā men kě yǐ jìn qù , yīn wèi tā men shèng jié 。 zhòng bǎi xìng yào zūn shǒu yē hé huá suǒ fēn fù de 。

Chớ để ai vào trong đền của Đức Giê-hô-va ngoại trừ những thầy tế lễ và các người Lê-vi phục sự: họ sẽ vào, bởi vì họ thánh sạch, cả dân sự sẽ giữ mạng lịnh của Đức Giê-hô-va.

殿。」

lì wèi rén yào shǒu zhōng gè ná bīng qì , sì wéi hù wèi wáng ; fán shàn rù diàn yǔ de , bì dāng zhì sǐ 。 wáng chū rù de shí hòu , nǐ men dāng gēn suí tā 。」

Người Lê-vi sẽ vây chung quanh vua, ai nấy đều cầm binh khí nơi tay; hễ ai vào đền thờ thì sẽ bị giết; các ngươi khá theo hầu vua khi người đi ra đi vào.

lì wèi rén hé yóu dà zhòng rén dōu zhào zhe jì sī yē hé yē dà yí qiè suǒ fēn fù de qù xíng , gè dài suǒ guǎn ān xī rì jìn bān chū bān de rén lái , yīn wèi jì sī yē hé yē dà bù xǔ tā men xià bān 。

Người Lê-vi và cả Giu-đa đều làm theo lời thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa đã dặn bảo; mỗi người đều lãnh kẻ thủ hạ mình, hoặc những kẻ vào phiên ngày sa-bát hay là kẻ mãn phiên ngày sa-bát; vì thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa không cho các phiên đổi về.

便 殿

jì sī yē hé yē dà biàn jiāng shén diàn lǐ suǒ cáng dà wèi wáng de qiāng 、 dùn pái 、 dǎng pái jiāo gěi bǎi fū zhǎng ,

Thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa phát cho các quan tướng cai trăm người, những giáo, khiên nhỏ và lớn của vua Đa-vít, để trong đền Đức Chúa Trời.

殿殿殿

yòu fēn pài zhòng mín shǒu zhōng gè ná bīng qì , zài tán hé diàn nà lǐ , cóng diàn yòu zhí dào diàn zuǒ , zhàn zài wáng zǐ de sì wéi ;

Người khiến dân chúng, ai nấy cầm binh khí mình, sắp hàng đứng chung quanh vua dài theo bàn thờ và đền, từ bên hữu đền cho đến bên tả đền.

:「!」

yú shì lǐng wáng zǐ chū lái , gěi tā dài shàng guān miǎn , jiāng lǜ fǎ shū jiāo gěi tā , lì tā zuò wáng 。 yē hé yē dà hé zhòng zǐ gāo tā , zhòng rén shuō :「 yuàn wáng wàn suì !」

Đoạn chúng đem vương tử ra, đội mão triều thiên trên đầu người, và trao luật pháp cho người, rồi tôn người làm vua; Giê-hô-gia-đa và các con trai người xức dầu cho người mà rằng: Vua vạn tuế!

殿

yà tā lì yǎ tīng jiàn mín bēn zǒu zàn měi wáng de shēng yīn , jiù dào mín nà lǐ , jìn yē hé huá de diàn ,

Khi A-tha-li nghe tiếng dân sự chạy và chúc tụng vua, thì đi đến cùng dân sự tại trong đền Đức Giê-hô-va.

殿:「!」

kàn jiàn wáng zhàn zài diàn mén de zhù páng , bǎi fū zhǎng hé chuī hào de rén shì lì zài wáng zuǒ yòu , guó mín dōu huān lè chuī hào , yòu yǒu gē chàng de , yòng gè yàng de yuè qì lǐng rén gē chàng zàn měi ; yà tā lì yǎ jiù sī liè yī fu , hǎn jiào shuō :「 fǎn le ! fǎn le !」

Bà xem thấy vua đứng trên cái sạp tại cửa vào; các quan tướng và kẻ thổi kèn đứng gần bên vua; còn cả dân sự của xứ đều vui mừng và thổi kèn, lại có những kẻ ca xướng gảy nhạc khí, mà ngợi khen Đức Chúa Trời. A-tha-li bèn xé áo mình mà la lên rằng: Phản ngụy! phản ngụy!

:「!」:「殿。」

jì sī yē hé yē dà dài guǎn xiá jūn bīng de bǎi fū zhǎng chū lái , fēn fù tā men shuō :「 jiāng tā gǎn dào bān wài , fán gēn suí tā de bì yòng dāo shā sǐ !」 yīn wèi jì sī shuō :「 bù kě zài yē hé huá diàn lǐ shā tā 。」

Thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa đòi ra các quan tướng cai trăm người được đặt thống quản đạo quân, mà biểu rằng: Hãy dẫn bà ra ngoài khỏi hàng quân, hễ ai theo bà, khá giết nó bằng gươm, vì thầy tế lễ đã dạy rằng: Chớ giết bà tại trong đền thờ của Đức Giê-hô-va.

便

zhòng bīng jiù shǎn kāi , ràng tā qù ; tā zǒu dào wáng gōng de mǎ mén , biàn zài nà lǐ bǎ tā shā le 。

Chúng bèn vẹt đường cho bà; bà trở vào cung vua bởi nơi cửa ngựa vào; rồi chúng giết bà tại đó.

yē hé yē dà yǔ zhòng mín hé wáng lì yuē , dōu yào zuò yē hé huá de mín 。

Giê-hô-gia-đa bèn lập giao ước với cả dân sự và với vua, để chúng làm dân sự của Đức Giê-hô-va.

yú shì zhòng mín dōu dào bā lì miào , chāi huǐ le miào , dǎ suì tán hé xiàng , yòu zài tán qián jiāng bā lì de jì sī mǎ tǎn shā le 。

Cả dân sự đều đi đến miễu Ba-anh, phá dỡ nó, đập bể bàn thờ và hình tượng nó, rồi giết Ma-than, thầy tế lễ của Ba-anh, tại trước bàn thờ.

殿殿西

yē hé yē dà pài guān kān shǒu yē hé huá de diàn , shì zài jì sī lì wèi rén shǒu xià 。 zhè jì sī lì wèi rén shì dà wèi fēn pài zài yē hé huá diàn zhōng 、 zhào mó xī lǜ fǎ shàng suǒ xiě de , gěi yē hé huá xiàn fán jì , yòu àn dà wèi suǒ dìng de lì , huān yuè gē chàng ;

Chiếu theo ban thứ Đa-vít đã định trong đền của Đức Giê-hô-va, Giê-hô-gia-đa giao các chức sự về đền Đức Giê-hô-va vào tay những thầy tế lễ và người Lê-vi, đặng dân những của lễ thiêu cho Giê-hô-va cách ca hát vui mừng, y theo đều đã chép trong luật pháp của Môi-se, và theo lệ Đa-vít đã định.

殿

qiě shè lì shǒu mén de bǎ shǒu yē hé huá diàn de gè mén , wú lùn wèi hé shì , bù jié jìng de rén dōu bù zhǔn jìn qù 。

Người cũng đặt những kẻ canh cửa ở nơi các cửa đền Đức Giê-hô-va, hầu cho ai bị ô uế về vô luận sự gì, đều chẳng được vào đó.

殿

yòu shuài lǐng bǎi fū zhǎng hé guì zhòu , yǔ mín jiān de guān zhǎng , bìng guó zhōng de zhòng mín , qǐng wáng cóng yē hé huá diàn xià lái , yóu shàng mén jìn rù wáng gōng , lì wáng zuò zài guó wèi shàng 。

Người lãnh lấy những quan tướng cai trăm người, kẻ tước vị và những người quan trưởng của dân, cùng cả dân sự của xứ, mà rước vua từ đền Đức Giê-hô-va xuống, đi vào cung vua bởi cửa trên, rồi đặt vua ngồi trên ngôi nước.

guó mín dōu huān lè , hé chéng dōu ān jìng 。 zhòng rén yǐ jiāng yà tā lì yǎ yòng dāo shā le 。

Hết thảy dân sự của xứ đều vui mừng, và thành được bình tịnh. Vả, chúng đã giết A-tha-li bằng gươm.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.