中文圣经

II LỊCH SỬ 24

đã biết 0/319

西

yuē ā shī dēng jī de shí hòu nián qī suì , zài yē lù sā lěng zuò wáng sì shí nián 。 tā mǔ qīn míng jiào xī bǐ yà , shì bié shì bā rén 。

Giô-ách được bảy tuổi khi người lên làm vua; người cai trị bốn mươi năm tại Giê-ru-sa-lem; mẹ người tên là Xi-bia, quê ở Bê-e-Sê-ba.

jì sī yē hé yē dà zài shì de shí hòu , yuē ā shī xíng yē hé huá yǎn zhōng kàn wèi zhèng de shì 。

Giô-ách làm điều thiện trước mặt Đức Giê-hô-va trọn đời thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa.

yē hé yē dà wèi tā qǔ le liǎng gè qī , bìng qiě shēng ér yǎng nǚ 。

Giê-hô-gia-đa cưới hai vợ cho Giô-ách; người sanh được những con trai và con gái.

殿

cǐ hòu , yuē ā shī yǒu yì chóng xiū yē hé huá de diàn ,

Sau việc này, Giô-ách có ý tu bổ đền của Đức Giê-hô-va,

便:「使 殿。」

biàn zhào jù zhòng jì sī hé lì wèi rén , fēn fù tā men shuō :「 nǐ men yào wǎng yóu dà gè chéng qù , shǐ yǐ sè liè zhòng rén juān nà yín zi , měi nián kě yǐ xiū lǐ nǐ men shén de diàn ; nǐ men yào jí sù bàn lǐ zhè shì 。」 zhǐ shì lì wèi rén bù jí sù bàn lǐ 。

bèn nhóm những thầy tế lễ và người Lê-vi, mà bảo rằng: Hãy đi khắp các thành Giu-đa, thâu lấy tiền bạc của cả Y-sơ-ra-ên, để hằng năm tu bổ lại cái đền của Đức Chúa Trời các ngươi; khá làm việc này cho mau. Song người Lê-vi trì hoãn.

:「西殿?」(

wáng zhào le dà jì sī yē hé yē dà lái , duì tā shuō :「 cóng qián yē hé huá de pú rén mó xī , wèi fǎ guì de zhàng mù yǔ yǐ sè liè huì zhòng suǒ dìng de juān xiàng , nǐ wèi hé bú jiào lì wèi rén zhào zhè lì cóng yóu dà hé yē lù sā lěng dài lái zuò diàn de fèi yòng ne ?」(

Vua vời thầy tế lễ thượng phẩm Giê-hô-gia-đa, mà bảo rằng: Cớ sao ngươi không có buộc những người Lê-vi từ Giu-đa và Giê-ru-sa-lem đem nộp bạc thuế, mà Môi-se, tôi tớ của Đức Giê-hô-va, đã định cho hội chúng Y-sơ-ra-ên phải dâng cho trại chứng cớ?

殿殿。)

yīn wèi nà è fù yà tā lì yǎ de zhòng zǐ céng chāi huǐ shén de diàn , yòu yòng yē hé huá diàn zhōng fēn bié wèi shèng de wù gòng fèng bā lì 。)

Vì A-tha-li, người nữ độc ác kia, và các con trai nàng đã phá hủy đền của Đức Chúa Trời; và chúng nó đã dâng các vật thánh của đền Đức Giê-hô-va cho thần Ba-anh.

殿

yú shì wáng xià lìng , zhòng rén zuò le yí guì , fàng zài yē hé huá diàn de mén wài ,

Vua bèn truyền dạy người ta đóng một cái hòm, để phía ngoài cửa đền Đức Giê-hô-va.

西

yòu tōng gào yóu dà hé yē lù sā lěng de bǎi xìng , yào jiāng shén pú rén mó xī zài kuàng yě suǒ fēn fù yǐ sè liè rén de juān xiàng gěi yē hé huá sòng lái 。

Rồi người ta rao cho khắp xứ Giu-đa và thành Giê-ru-sa-lem ai nấy phải đem dâng cho Đức Giê-hô-va tiền thuế mà Môi-se, tôi tớ của Đức Chúa Trời, đã định về Y-sơ-ra-ên tại trong đồng vắng.

zhòng shǒu lǐng hé bǎi xìng dōu huān huān xǐ xǐ dì jiāng yín zi sòng lái , tóu rù guì zhōng , zhí dào juān wán 。

Hết thảy các quan trưởng và cả dân sự đều vui mừng, đem bạc đến bỏ vào trong hòm cho đến đầy.

lì wèi rén jiàn yín zi duō le , jiù bǎ guì tái dào wáng suǒ pài de sī shì miàn qián ; wáng de shū jì hé dà jì sī de shǔ yuán lái jiāng guì dǎo kōng , réng fàng zài yuán chù 。 rì rì dōu shì zhè yàng , jī xù de yín zi shèn duō 。

Khi người Lê-vi thấy trong hòm đựng nhiều bạc, bèn đem nó lên giao cho vua kiểm soát; thơ ký vua và người của thầy tế lễ thượng phẩm đều đến trút hòm ra, rồi đem để lại chỗ cũ. Mỗi ngày họ làm như vậy, và thâu được rất nhiều bạc.

殿殿殿

wáng yǔ yē hé yē dà jiāng yín zi jiāo gěi yē hé huá diàn lǐ bàn shì de rén , tā men jiù gù le shí jiàng 、 mù jiàng chóng xiū yē hé huá de diàn , yòu gù le tiě jiàng 、 tóng jiàng xiū lǐ yē hé huá de diàn 。

Vua và Giê-hô-gia-đa giao bạc ấy cho những kẻ coi sóc công việc trong đền Đức Giê-hô-va; họ mướn thợ đẽo đá, và thợ mộc, đặng tu bổ đền Đức Giê-hô-va; cũng mướn những thợ sắt và thợ đồng đặng sửa lại đền Đức Giê-hô-va.

殿

gōng rén cāo zuò , jiàn jiàn xiū chéng , jiāng shén diàn xiū zào dé yǔ cóng qián yí yàng , ér qiě shèn shì jiān gù 。

Vậy, các thợ làm công việc, và nhờ tay họ việc tu bổ được thành; chúng làm lại đền của Đức Chúa Trời như cũ, và làm cho vững chắc.

殿 殿

gōng chéng wán le , tā men jiù bǎ qí yú de yín zi ná dào wáng yǔ yē hé yē dà miàn qián , yòng yǐ zhì zào yē hé huá diàn gòng fèng suǒ yòng de qì mǐn hé tiáo gēng , bìng jīn yín de qì mǐn 。 yē hé yē dà de zhèng cè bèi fèi qì yē hé yē dà zài shì de shí hòu , zhòng rén cháng zài yē hé huá diàn lǐ xiàn fán jì 。

Khi đã làm xong, chúng bèn đem bạc còn dư lại đến trước mặt vua và Giê-hô-gia-đa; người ta dùng bạc ấy làm những đồ lễ về đền Đức Giê-hô-va, tức những đồ dùng về việc phụng sự, và về cuộc tế lễ, những chén, và những khí dụng bằng vàng bằng bạc. Trọn đời Giê-hô-gia-đa, người ta hằng dâng của lễ thiêu tại đền của Đức Giê-hô-va luôn luôn.

yē hé yē dà nián jì lǎo mài , rì zi mǎn zú ér sǐ 。 sǐ de shí hòu nián yì bǎi sān shí suì ,

Vả, Giê-hô-gia-đa đã trở về già tuổi rất cao, rồi qua đời; lúc người thác, được một trăm ba mươi tuổi.

殿

zàng zài dà wèi chéng liè wáng de fén mù lǐ ; yīn wèi tā zài yǐ sè liè rén zhōng háng shàn , yòu shì fèng shén , xiū lǐ shén de diàn 。

Người ta chôn người tại trong thành Đa-vít chung với các vua, vì người có công lao trong Y-sơ-ra-ên, có hầu việc Đức Chúa Trời, và tu bổ đền của Ngài.

yē hé yē dà sǐ hòu , yóu dà de zhòng shǒu lǐng lái cháo bài wáng ; wáng jiù tīng cóng tā men 。

Sau khi Giê-hô-gia-đa đã qua đời, các quan trưởng Giu-đa đến chầu lạy vua. Vua bèn nghe theo lời của chúng,

殿忿

tā men lí qì yē hé huá — tā men liè zǔ shén de diàn , qù shì fèng yà shè lā hé ǒu xiàng ; yīn tā men zhè zuì , jiù yǒu fèn nù lín dào yóu dà hé yē lù sā lěng 。

lìa bỏ đền Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, mà phục sự những thần A-sê-ra và các hình tượng; tại cớ tội lỗi ấy, bèn có cơn giận của Chúa nghịch cùng Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.

dàn shén réng qiǎn xiān zhī dào tā men nà lǐ , yǐn dǎo tā men guī xiàng yē hé huá 。 zhè xiān zhī jǐng jiè tā men , tā men què bù kěn tīng 。

Đức Giê-hô-va sai các đấng tiên tri đến cùng chúng, để dắt chúng trở lại cùng Đức Giê-hô-va; nhưng chúng không chịu nghe.

:「 。」

nà shí , shén de líng gǎn dòng jì sī yē hé yē dà de ér zi sā jiā lì yà , tā jiù zhàn zài shàng miàn duì mín shuō :「 shén rú cǐ shuō : nǐ men wèi hé gān fàn yē hé huá de jiè mìng , yǐ zhì bù dé hēng tōng ne ? yīn wèi nǐ men lí qì yē hé huá , suǒ yǐ tā yě lí qì nǐ men 。」

Thần của Đức Chúa Trời cảm động Xa-cha-ri, con trai của thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa; người đứng dậy trước mặt dân sự, mà nói rằng: Đức Chúa Trời phán như vầy: Cớ sao các ngươi phạm các điều răn của Đức Giê-hô-va? Các ngươi sẽ chẳng may mắn được, vì đã lìa bỏ Đức Giê-hô-va, và Đức Giê-hô-va cũng đã lìa bỏ các ngươi.

殿

zhòng mín tóng xīn móu hài sā jiā lì yà , jiù zhào wáng de fēn fù , zài yē hé huá diàn de yuàn nèi yòng shí tou dǎ sǐ tā 。

Chúng bèn phản nghịch với người, và theo lịnh vua ném đá người tại trong hành lang của đền Đức Giê-hô-va.

:「!」

zhè yàng , yuē ā shī wáng bù xiǎng niàn sā jiā lì yà de fù qīn yē hé yē dà xiàng zì jǐ suǒ shī de ēn , shā le tā de ér zǐ 。 sā jiā lì yà lín sǐ de shí hòu shuō :「 yuàn yē hé huá jiàn chá shēn yuān !」

Aáy vậy, vua Giô-ách không nhớ đến sự nhân từ của Giê-hô-gia-đa, cha của A-cha-xia, đã làm cho mình, nhưng giết con trai người đi; khi người chết thì có nói rằng: Nguyện Đức Giê-hô-va xem xét và báo lại cho!

mǎn le yì nián , yà lán de jūn bīng shàng lái gōng jī yuē ā shī , lái dào yóu dà hé yē lù sā lěng , shā le mín zhōng de zhòng shǒu lǐng , jiāng suǒ lüè de cái huò sòng dào dà mǎ shì gé wáng nà lǐ 。

Xảy khi đến cuối năm, thì đạo binh Sy-ri kéo lên hãm đánh Giô-ách; chúng nó loán đến Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, giết các quan trưởng của dân, rồi gởi hết những của cướp về cho vua tại Đa-mách.

yà lán de jūn bīng suī lái le yì xiǎo duì , yē hé huá què jiāng dà duì de jūn bīng jiāo zài tā men shǒu lǐ , shì yīn yóu dà rén lí qì yē hé huá — tā men liè zǔ de shén , suǒ yǐ jiè yà lán rén chéng fá yuē ā shī 。

Đạo binh Sy-ri kéo đến có ít người, Đức Giê-hô-va lại phó một đạo binh rất đông vào tay chúng nó, bởi vì họ đã lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình. Như vậy, dân Sy-ri xử hình phạt cho Giô-ách.

yà lán rén lí kāi yuē ā shī de shí hòu , tā huàn zhòng bìng ; chén pú bèi pàn tā , yào bào jì sī yē hé yē dà ér zi liú xuè zhī chóu , shā tā zài chuáng shàng , zàng tā zài dà wèi chéng , zhǐ shì bú zàng zài liè wáng de fén mù lǐ 。

Khi chúng đã bỏ đi rồi (vả chúng để người ở lại bị đau nặng), các đầy tớ người bèn phản nghịch cùng người, vì cớ huyết của con trai thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa, giết người tại trên giường, và người chết; người ta chôn người tại trong thành Đa-vít, song không phải trong mồ các vua.

bèi pàn tā de shì yà mén fù rén shì mǐ yā de ér zi sā bá hé mó yā fù rén shì mǐ lì de ér zi yuē sà bá 。

Nầy là những kẻ dấy nghịch cùng người: Xa-bát, con trai của Si-mê-át, là đàn bà Am-môn, và Giô-xa-bát, con trai Sim-rít, là đàn bà Mô-áp.

殿

zhì yú tā de zhòng zǐ hé tā suǒ shòu de jǐng jiè , bìng tā chóng xiū shén diàn de shì , dōu xiě zài liè wáng de chuán shàng 。 tā ér zi yà mǎ xiè jiē xù tā zuò wáng 。

Còn về việc các con trai người, số cống thuế người phải nộp, và cuộc tu bổ đền của Đức Giê-hô-va, thảy đều chép trong sách truyện các vua. A-ma-xia, con trai người, cai trị thế cho người.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.