中文圣经

II LỊCH SỬ 29

đã biết 0/352

西

xī xī jiā dēng jī de shí hòu nián èr shí wǔ suì , zài yē lù sā lěng zuò wáng èr shí jiǔ nián 。 tā mǔ qīn míng jiào yà bǐ yǎ , shì sā jiā lì yǎ de nǚ ér 。

Ê-xê-chia được hai mươi lăm tuổi khi người lên ngôi làm vua; người cai trị hai mươi chín năm tại Giê-ru-sa-lem; mẹ người tên là A-bi-gia, con gái của Xa-cha-ri.

西

xī xī jiā xíng yē hé huá yǎn zhōng kàn wèi zhèng de shì , xiào fǎ tā zǔ dà wèi yí qiè suǒ xíng de 。

Người làm điều thiện trước mặt Đức Giê-hô-va, y theo mọi điều Đa-vít, tổ phụ người, đã làm.

殿

yuán nián zhēng yuè , kāi le yē hé huá diàn de mén , chóng xīn xiū lǐ 。

Tháng giêng năm đầu người trị vì, người mở các cửa đền của Đức Giê-hô-va, và sửa sang lại.

tā zhào zhòng jì sī hé lì wèi rén lái , jù jí zài dōng biān de kuān kuò chù ,

Người đòi những thầy tế lễ và người Lê-vi đến, hiệp chúng lại tại nơi phố phía đông,

:「 殿

duì tā men shuō :「 lì wèi rén nǎ , dāng tīng wǒ shuō : xiàn zài nǐ men yào jié jìng zì jǐ , yòu jié jìng yē hé huá — nǐ men liè zǔ shén de diàn , cóng shèng suǒ zhōng chú qù wū huì zhī wù 。

mà bảo rằng: Hỡi người Lê-vi, hãy nghe ta! Bây giờ khá dọn mình ra thánh, và dọn đền của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi cho thánh sạch, cùng cất những điều dơ dáy khỏi nơi đền thánh đi.

wǒ men liè zǔ fàn le zuì , xíng yē hé huá — wǒ men shén yǎn zhōng kàn wèi è de shì , lí qì tā , zhuǎn liǎn bèi xiàng tā de jū suǒ ,

Vì các tổ phụ chúng ta đã phạm tội, làm điều ác trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, lìa bỏ Ngài, ngảnh mặt khỏi nơi ngự của Đức Giê-hô-va, và xây lưng lại Ngài.

fēng suǒ láng mén , chuī miè dēng huǒ , bú zài shèng suǒ zhōng xiàng yǐ sè liè shén shāo xiāng , huò xiàn fán jì 。

Chúng lại đóng các hiên cửa, tắt các đèn, không xông hương và không dâng của lễ thiêu tại nơi thánh cho Đức Giê-hô-va của Y-sơ-ra-ên.

忿

yīn cǐ , yē hé huá de fèn nù lín dào yóu dà hé yē lù sā lěng , jiāng qí zhōng de rén pāo lái pāo qù , lìng rén jīng hài 、 chī xiào , zhèng rú nǐ men qīn yǎn suǒ jiàn de 。

Vì vậy cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va giáng trên Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, và Ngài phó chúng vào sự khổ sở, sự bại hoại, và sự chê bai, y như các ngươi đã thấy tận mắt mình.

suǒ yǐ wǒ men de zǔ zōng dǎo zài dāo xià , wǒ men de qī zǐ ér nǚ yě bèi lǔ lüè 。

Nầy, vì cớ ấy mà các tổ phụ ta bị gươm ngã chết, các con trai, con gái, và vợ ta, phải bị bắt dẫn đi làm phu tù.

使

xiàn zài wǒ xīn zhōng yǒu yì yǔ yē hé huá — yǐ sè liè de shén lì yuē , hǎo shǐ tā de liè nù zhuǎn lí wǒ men 。

Bây giờ, ta có ý lập giao ước cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, để cơn thạnh nộ Ngài lìa khỏi chúng ta.

。」

wǒ de zhòng zǐ a , xiàn zài bú yào xiè dài ; yīn wèi yē hé huá jiǎn xuǎn nǐ men zhàn zài tā miàn qián shì fèng tā , yǔ tā shāo xiāng 。」

Hỡi các con, chớ trì hoãn nữa, vì Đức Giê-hô-va có chọn các ngươi làm đầy tớ Ngài, để đứng trước mặt Ngài, hầu việc và xông hương cho Ngài.

yú shì , lì wèi rén gē xiá de zǐ sūn 、 yà mǎ sài de ér zi mǎ hā , yà sā lì yǎ de ér zi yuē ěr ; mǐ lā lì de zǐ sūn 、 yà bó dǐ de ér zi jī shì , yē hā lì lè de ér zi yà sā lì yǎ ; gé shùn de zǐ sūn 、 xīn mǎ de ér zi yuē yà , yuē yà de ér zi yī diàn ;

Những người Lê-vi bèn chổi dậy; về dòng Kê-át có Ma-hát, con của A-ma-sai, và Giô-ên, con trai của A-sa-ria; về dòng Mê-ra-ri có Kích, con trai Aùp-đi, và A-xa-ria, con trai Giê-ha-lê-le; về dòng Ghẹt-sôn có Giô-a, con trai của Xim-ma, Ê-đen, con trai của Giô-a;

yǐ lì sā fǎn de zǐ sūn shēn lì hé yē lì ; yà sà de zǐ sūn sā jiā lì yǎ hé mǎ tàn yǎ ;

về dòng Ê-lít-sa-phan có Sim-ri và Giê-i-ên; về dòng A-sáp có Xa-cha-ri và Ma-tha-nia;

xī màn de zǐ sūn yē xiē hé shì měi ; yē dù dùn de zǐ sūn shì mǎ yǎ hé wū xuē ;

về dòng Hê-man có Giê-hi-ên và Si-mê-i; về dòng Giê-đu-thun có Sê-ma-gia và U-xi-ên.

殿

qǐ lái jù jí tā men de dì xiong , jié jìng zì jǐ , zhào zhe wáng de fēn fù 、 yē hé huá de mìng lìng , jìn qù jié jìng yē hé huá de diàn 。

Chúng hiệp anh em mình lại, dọn mình cho sạch, rồi cứ theo lịnh vua truyền dạy, và lời phán của Đức Giê-hô-va, họ đi vào làm sạch đền của Đức Giê-hô-va.

殿殿殿殿

jì sī jìn rù yē hé huá de diàn yào jié jìng diàn , jiāng diàn zhōng suǒ yǒu wū huì zhī wù bān dào yē hé huá diàn de yuàn nèi , lì wèi rén jiē qù , bān dào wài tou jí lún xī biān 。

Những thầy tế lễ đi vào trong đền của Đức Giê-hô-va, đặng dọn nó cho sạch; phàm điều gì dơ dáy thấy ở trong đền của Đức Giê-hô-va, họ lấy liệng ra ngoài ở nơi hành lang của đền; rồi người Lê-vi lấy nó đem quăng ở ngoài tại trong khe Xết-rôn.

殿殿

cóng zhēng yuè chū yī rì jié jìng qǐ , chū bā rì dào le yē hé huá de diàn láng , yòng bā rì de gōng fū jié jìng yē hé huá de diàn , dào zhēng yuè shí liù rì cái jié jìng wán le 。

Ngày mồng một tháng giêng, chúng khởi việc dọn đền cho sạch; qua ngày mồng tám tháng ấy, chúng đến nơi hiên cửa của Đức Giê-hô-va; trong tám ngày họ dọn đền của Đức Giê-hô-va cho sạch; và qua ngày mười sáu tháng giêng công việc làm xong.

西:「殿

yú shì , tā men jìn jiàn xī xī jiā wáng , shuō :「 wǒ men yǐ jiāng yē hé huá de quán diàn hé fán jì tán , bìng tán de yí qiè qì mǐn 、 chén shè bǐng de zhuō zi , yǔ zhuō zi de yí qiè qì mǐn dōu jié jìng le ;

Chúng vào cung vua Ê-xê-chia, mà nói rằng: Chúng tôi đã dọn sạch cả đền Đức Giê-hô-va, bàn thờ của lễ thiêu và các đồ dùng nó, cái bàn sắp bánh trần thiết và các đồ dùng nó;

。」

bìng qiě yà hā sī wáng zài wèi fàn zuì de shí hòu suǒ fèi qì de qì mǐn , wǒ men yù bèi qí quán , qiě jié jìng le , xiàn jīn dōu zài yē hé huá de tán qián 。」

Lại những khí dụng mà vua A-cha quăng bỏ, trong đời người trị vì, lúc người phạm tội, thì chúng tôi đã sắp sửa lại và dọn ra sạch; kìa, nó ở trước mặt bàn thờ của Đức Giê-hô-va.

西殿

xī xī jiā wáng qīng zǎo qǐ lái , jù jí chéng lǐ de shǒu lǐng dōu shàng yē hé huá de diàn ;

Vua Ê-xê-chia dậy sớm, nhóm hiệp các quan trưởng trong thành, và lên đền của Đức Giê-hô-va;

殿

qiān le qī zhī gōng niú , qī zhī gōng yáng , qī zhī yáng gāo , qī zhī gōng shān yáng , yào wèi guó 、 wèi diàn 、 wèi yóu dà rén zuò shú zuì jì 。 wáng fēn fù yà lún de zǐ sūn zhòng jì sī , xiàn zài yē hé huá de tán shàng ,

đem theo bảy con bò đực, bảy con chiên đực, bảy con chiên con, và bảy con dê đực đặng làm của lễ chuộc tội cho nước, cho đền thánh, và cho Giu-đa. Vua biểu những thầy tế lễ, con cháu của A-rôn, dâng các con sinh ấy trên bàn thờ của Đức Giê-hô-va.

jiù zǎi le gōng niú , jì sī jiē xuè sǎ zài tán shàng , zǎi le gōng yáng , bǎ xuè sǎ zài tán shàng , yòu zǎi le yáng gāo , yě bǎ xuè sǎ zài tán shàng ;

Chúng bèn giết các con bò đực, thầy tế lễ hứng lấy huyết mà rảy trên bàn thờ; rồi giết các con chiên đực và rảy huyết trên bàn thờ; chúng cũng giết các con chiên con, và rảy huyết trên bàn thờ.

bǎ nà zuò shú zuì jì de gōng shān yáng qiān dào wáng hé huì zhòng miàn qián , tā men jiù àn shǒu zài qí shàng 。

Đoạn, chúng đem các con dê đực dùng về của lễ chuộc tội lại gần tại trước mặt vua và hội chúng, đặt tay mình trên chúng nó,

jì sī zǎi le yáng , jiāng xuè xiàn zài tán shàng zuò shú zuì jì , wèi yǐ sè liè zhòng rén shú zuì , yīn wèi wáng fēn fù jiāng fán jì hé shú zuì jì wèi yǐ sè liè zhòng rén xiàn shàng 。

rồi, thầy tế lễ giết chúng nó, hứng lấy huyết rảy trên bàn thờ đặng làm lễ chuộc tội cho cả Y-sơ-ra-ên; vì vua có dạy rằng của lễ thiêu và của lễ chuộc tội phải dâng lên vì cả Y-sơ-ra-ên.

殿

wáng yòu pài lì wèi rén zài yē hé huá diàn zhōng qiāo bó , gǔ sè , tán qín , nǎi zhào dà wèi hé tā xiān jiàn jiā dé , bìng xiān zhī ná dān suǒ fēn fù de , jiù shì yē hé huá jiè xiān zhī suǒ fēn fù de 。

Vua đặt người Lê-vi ở trong đền Đức Giê-hô-va cầm chập chỏa, đàn cầm, đàn sắt, tùy theo lệ định của Đa-vít, của Gát, là đấng tiên kiến của vua, và của tiên tri Na-than; vì lệ định ấy do nơi Đức Giê-hô-va cậy các tiên tri Ngài mà dạy biểu.

lì wèi rén ná dà wèi de yuè qì , jì sī ná hào , yì tóng zhàn lì 。

Các người Lê-vi đứng cầm nhạc khí của Đa-vít, còn những thầy tế lễ cầm còi.

西

xī xī jiā fēn fù zài tán shàng xiàn fán jì , fán jì yí xiàn , jiù chàng zàn měi yē hé huá de gē , yòng hào , bìng yòng yǐ sè liè wáng dà wèi de yuè qì xiāng hé 。

Ê-xê-chia truyền dâng của lễ thiêu, và đang lúc khởi dâng của lễ thiêu, thì khởi hát bài ca khen ngợi Đức Giê-hô-va, có còi thổi và nhạc khí của Đa-vít, vua Y-sơ-ra-ên, họa thêm.

huì zhòng dōu jìng bài , gē chàng de gē chàng , chuī hào de chuī hào , rú cǐ zhí dào fán jì xiàn wán le 。

Cả hội chúng thờ lạy, người ca hát đều hát, và kẻ thổi kèn đều thổi kèn, cho đến đã xông của lễ thiêu đoạn.

xiàn wán le jì , wáng hé yí qiè gēn suí de rén dōu fǔ fú jìng bài 。

Khi dâng của lễ thiêu xong, vua và các người ở với vua bèn cúi xuống thờ lạy.

西

xī xī jiā wáng yǔ zhòng shǒu lǐng yòu fēn fù lì wèi rén yòng dà wèi hé xiān jiàn yà sà de shī cí sòng zàn yē hé huá ; tā men jiù huān huān xǐ xǐ dì sòng zàn yē hé huá , dī tóu jìng bài 。

Vả lại, vua Ê-xê-chia và các quan trưởng biểu người Lê-vi hát ngợi khen Đức Giê-hô-va bằng lời của Đa-vít và của A-sáp, là đấng tiên kiến; chúng bèn hát ngợi khen cách vui mừng, rồi cúi đầu xuống mà thờ lạy.

西:「殿。」

xī xī jiā shuō :「 nǐ men jì rán guī yē hé huá wèi shèng , jiù yào qián lái bǎ jì wù hé gǎn xiè jì fèng dào yē hé huá diàn lǐ 。」 huì zhòng jiù bǎ jì wù hé gǎn xiè jì fèng lái , fán gān xīn lè yì de yě jiāng fán jì fèng lái 。

Ê-xê-chia cất tiếng nói rằng: Bây giờ các ngươi đã biệt mình riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va; vậy hãy đến gần, đem những hi sinh và của lễ cảm tạ vào trong đền của Đức Giê-hô-va. Hội chúng bèn dẫn đến những hi sinh và của lễ cảm tạ; còn kẻ nào vui lòng thì đem dâng những của lễ thiêu.

huì zhòng suǒ fèng de fán jì rú xià : gōng niú qī shí zhī , gōng yáng yì bǎi zhī , yáng gāo èr bǎi zhī , zhè dōu shì zuò fán jì xiàn gěi yē hé huá de ;

Số con sinh dùng về của lễ thiêu mà hội chúng đem đến là bảy mươi con bò đực, một trăm con chiên đực, và hai trăm con chiên con; họ dùng các thú đó làm của lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va.

yòu yǒu fēn bié wèi shèng zhī wù , gōng niú liù bǎi zhī , mián yáng sān qiān zhī 。

Cũng biệt riêng ra thánh sáu trăm con bò đực và ba ngàn con trừu.

dàn jì sī tài shǎo , bù néng bāo jìn fán jì shēng de pí , suǒ yǐ tā men de dì xiong lì wèi rén bāng zhù tā men , zhí děng fán jì de shì wán le , yòu děng bié de jì sī zì jié le ; yīn wèi lì wèi rén chéng xīn zì jié , shèng guò jì sī 。

Song thầy tế lễ chỉ có ít quá, không đủ lột da các con sinh dùng về của lễ thiêu vì vậy anh em họ, là người Lê-vi, bèn giúp đỡ họ cho đến khi xong công việc, và những thầy tế lễ đã dọn mình thánh sạch; vì người Lê-vi có lòng thành dọn mình thánh sạch hơn những thầy tế lễ.

殿

fán jì hé píng ān jì shēng de zhī yóu , bìng fán jì tóng xiàn de diàn jì shèn duō 。 zhè yàng , yē hé huá diàn zhōng de shì wù jù dōu qí bèi le 。

Lại cũng có nhiều của lễ thiêu, mỡ của lễ thù ân, và lễ quán cặp theo mỗi của lễ thiêu. Vậy, cuộc tế lễ trong đền Đức Giê-hô-va đã lập lại rồi.

西

zhè shì bàn de shèn sù , xī xī jiā hé zhòng mín dōu xǐ lè , shì yīn shén wèi zhòng mín suǒ yù bèi de 。

Ê-xê-chia và cả dân sự đều vui mừng về điều Đức Chúa Trời đã sắm sửa cho dân sự; bởi công việc ấy thình lình mà làm thành.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.