中文圣经

II CÁC VUA 25

đã biết 0/301

西

xī dǐ jiā bèi pàn bā bǐ lún wáng 。 tā zuò wáng dì jiǔ nián shí yuè chū shí rì , bā bǐ lún wáng ní bù jiǎ ní sā shuài lǐng quán jūn lái gōng jī yē lù sā lěng , duì chéng ān yíng , sì wéi zhù lěi gōng chéng 。

Năm thứ chín đời Sê-đê-kia, ngày mồng một tháng mười, Nê-bu-cát-nết-sa, vua ba-by-lôn, cùng cả đạo quân người, đến hãm đánh Giê-ru-sa-lem. Người hạ trại trước thành, và đắp lũy vây chung quanh thành.

西

yú shì chéng bèi wéi kùn , zhí dào xī dǐ jiā wáng shí yī nián 。

Sự vây thành lâu dài cho đến năm thứ mười một đời Sê-đê-kia.

sì yuè chū jiǔ rì , chéng lǐ yǒu dà jī huāng , shèn zhì bǎi xìng dōu méi yǒu liáng shí 。

Ngày mồng chín tháng tư, có sự đói kém lớn trong thành, dân sự không có bánh.

chéng bèi gōng pò , yí qiè bīng dīng jiù zài yè jiān cóng kào jìn wáng yuán liǎng chéng zhōng jiān de mén táo pǎo 。 jiā lè dǐ rén zhèng zài sì wéi gōng chéng , wáng jiù xiàng yà lā bā táo zǒu 。

Bấy giờ, quân Canh-đê làm lủng một lỗ nơi vách tường thành; đoạn hết thảy quân lính đang ban đêm đều chạy trốn bởi cửa ở giữa hai vách thành gần vườn vua. Đường khi quân Canh-đê vây thành, thì vua chạy trốn theo đường đồng bằng.

jiā lè dǐ de jūn duì zhuī gǎn wáng , zài yē lì gē de píng yuán zhuī shàng tā ; tā de quán jūn dōu lí kāi tā sì sàn le 。

Đạo quân Canh-đê bèn đuổi theo vua, và theo kịp người tại trong đồng bằng Giê-ri-cô; cả cơ binh người đều tản lạc và bỏ người.

jiā lè dǐ rén jiù ná zhù wáng , dài tā dào zài lì bǐ lā de bā bǐ lún wáng nà lǐ shěn pàn tā 。

Quân Canh-đê bắt vua, dẫn đến vua Ba-by-lôn ở Ríp-la; tại đó chúng nó xét đoán người.

西西

zài xī dǐ jiā yǎn qián shā le tā de zhòng zǐ , bìng qiě wān le xī dǐ jiā de yǎn jīng , yòng tóng liàn suǒ zhe tā , dài dào bā bǐ lún qù 。

Chúng nó giết các con trai Sê-đê-kia trước mặt người; đoạn, chúng nó móc mắt Sê-đê-kia xiềng người bằng xích đồng, rồi dẫn người đến Ba-by-lôn.

bā bǐ lún wáng ní bù jiǎ ní sā shí jiǔ nián wǔ yuè chū qī rì , bā bǐ lún wáng de chén pú 、 hù wèi cháng ní bù sā lā dàn lái dào yē lù sā lěng ,

Ngày mồng bảy tháng năm, năm thứ mười chín đời Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, quan thị vệ Nê-bu-xa-ra-đan, tôi tớ của vua Ba-by-lôn, đến Giê-ru-sa-lem.

殿

yòng huǒ fén shāo yē hé huá de diàn hé wáng gōng , yòu fén shāo yē lù sā lěng de fáng wū , jiù shì gè dà hù jiā de fáng wū 。

Người thiêu đốt đền thờ Đức Giê-hô-va, cung của vua, và mọi nhà trong thành Giê-ru-sa-lem; thiêu đốt luôn các nhà của người sang trọng.

gēn cóng hù wèi cháng jiā lè dǐ de quán jūn jiù chāi huǐ yē lù sā lěng sì wéi de chéng qiáng 。

Đoạn, đạo quân Canh-đê, vâng lịnh quan thị vệ, phá đổ vách thành chung quanh Giê-ru-sa-lem.

nà shí hù wèi cháng ní bù sā lā dàn jiāng chéng lǐ suǒ shèng xià de bǎi xìng , bìng yǐ jīng tóu xiáng bā bǐ lún wáng de rén , yǐ jí dà zhòng suǒ shèng xià de rén , dōu lǔ qù le 。

Quan thị vệ Nê-bu-xa-ra-đan bắt dân cư còn sót lại trong thành, luôn với những kẻ hàng đầu vua Ba-by-lôn và đám dân còn lại khác, mà dẫn đi làm phu tù.

使

dàn hù wèi cháng liú xià xiē mín zhōng zuì qióng de , shǐ tā men xiū lǐ pú táo yuán , gēng zhòng tián dì 。

Quan thị vệ chỉ chừa lại trong xứ những người nghèo khổ hơn hết, đặng trồng nho và làm ruộng.

殿殿

yē hé huá diàn de tóng zhù , bìng yē hé huá diàn de pén zuò hé tóng hǎi , jiā lè dǐ rén dōu dǎ suì le , jiāng nà tóng yùn dào bā bǐ lún qù le ,

Quân Canh-đê đập bể những trụ đồng, táng đồng, và cái biển bằng đồng ở trong đền thờ của Đức Giê-hô-va, rồi đem đồng ấy về Ba-by-lôn.

yòu dài qù guō 、 chǎn zǐ 、 là jiǎn 、 tiáo gēng , bìng suǒ yòng de yí qiè tóng qì ,

Chúng nó cũng đem đi những nồi đồng, vá, dao, chén, và hết thảy những khí dụng bằng đồng dùng vào việc thờ phượng.

huǒ dǐng 、 wǎn , wú lùn jīn de yín de , hù wèi cháng yě dōu dài qù le 。

Lại quan thị vệ ấy đem đi những lư hương, chậu, và các vật bằng vàng, bạc.

殿

suǒ luó mén wèi yē hé huá diàn suǒ zào de liǎng gēn tóng zhù 、 yí gè tóng hǎi , hé jǐ gè pén zuò , zhè yí qiè de tóng , duō dé wú fǎ kě chēng 。

Còn hai cây trụ, cái biển đồng, và các miếng táng mà Sa-lô-môn đã làm cho đền thờ của Đức Giê-hô-va, thì không thể cân được đồng của các vật ấy.

zhè yì gēn zhù zǐ gāo shí bā zhǒu , zhù shàng yǒu tóng dǐng , gāo sān zhǒu ; tóng dǐng de zhōu wéi yǒu wǎng zǐ hé shí liú , dōu shì tóng de 。 nà yì gēn zhù zi , zhào cǐ yí yàng , yě yǒu wǎng zǐ 。

Mỗi cây trụ có mười tám thước bề cao, trên trụ có đầu đồng ba thước bề cao, có bao quanh lưới và trái lựu cũng bằng đồng. Cây thứ nhì trang sức lưới giống như cây trước.

西西

hù wèi cháng ná zhù dà jì sī xī lái yǎ 、 fù jì sī xī fān yà , hé sān gè bǎ mén de ,

Quan thị vệ bắt thầy tế lễ thượng phẩm Sê-ra-gia, thầy phó tế lễ Sô-phô-ni, và ba người canh giữ cửa đền thờ,

yòu cóng chéng zhōng ná zhù yí gè guǎn lǐ bīng dīng de guān , bìng zài chéng lǐ suǒ yù cháng jiàn wáng miàn de wǔ gè rén hé jiǎn diǎn guó mín jūn zhǎng de shū jì , yǐ jí chéng lǐ yù jiàn de guó mín liù shí gè rén 。

lại bắt trong thành một hoạn quan coi các chiến sĩ, năm người trong các cận thần vua, thơ ký của quan tổng binh lo chiêu mộ binh lính của xứ, luôn với sáu mươi người của xứ cũng ở trong thành;

hù wèi cháng ní bù sā lā dàn jiāng zhè xiē rén dài dào zài lì bǐ lā de bā bǐ lún wáng nà lǐ 。

quan thị vệ Nê-bu-xa-ra-đan bắt dẫn hết thảy những người ấy đến vua Ba-by-lôn, tại Ríp-la.

bā bǐ lún wáng jiù bǎ tā men jī shā zài hā mǎ dì de lì bǐ lā 。 zhè yàng , yóu dà rén bèi lǔ qù lí kāi běn dì 。

Vua Ba-by-lôn khiến giết chúng nó tại Ríp-la, trong xứ Ha-mát. Như vậy, dân Giu-đa bị bắt đem đi khỏi xứ mình.

zhì yú yóu dà guó shèng xià de mín , jiù shì bā bǐ lún wáng ní bù jiǎ ní sā suǒ shèng xià de , bā bǐ lún wáng lì le shā fān de sūn zi 、 yà xī gān de ér zi jī dà lì zuò tā men de shěng zhǎng 。

Còn về dân sự mà Nê-bu-cát-nết-sa đã chừa lại trong xứ Giu-đa, thì vua Ba-by-lôn đặt Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam, cháu Sa-phan, làm quan tổng đốc.

西

zhòng jūn zhǎng hé shǔ tā men de rén tīng jiàn bā bǐ lún wáng lì le jī dà lì zuò shěng zhǎng , yú shì jūn zhǎng ní tàn yǎ de ér zi yǐ shí mǎ lì 、 jiā lì yà de ér zi yuē hā nán 、 ní tuó fǎ rén dān hù miè de ér zi xī lái yǎ 、 mǎ jiā rén de ér zi yǎ sā ní yà , hé shǔ tā men de rén dōu dào mǐ sī bā jiàn jī dà lì 。

Khi các quan tướng tức là ỗch-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át, Sê-ra-gia, con trai Tan-hu-mết ở Nê-tô-phát và Gia-a-xa-nia, con trai của Ma-ca-thít, và những quân lính họ, đều hay rằng vua Ba-by-lôn đã đặt Ghê-đa-lia làm quan tổng đốc, thì họ bèn đi đến người tại Mích-ba.

:「。」

jī dà lì xiàng tā men hé shǔ tā men de rén qǐ shì shuō :「 nǐ men bú bì jù pà jiā lè dǐ chén pú , zhǐ guǎn zhù zài zhè dì fú shì bā bǐ lún wáng , jiù kě yǐ dé fú 。」

Ghê-đa-lia thề với chúng và với quân lính của chúng rằng: Chớ sợ những tôi tớ của Canh-đê. Hãy ở trong xứ, thần phục vua Ba-by-lôn, thì các ngươi sẽ được bình an.

qī yuè jiān , zōng shì yǐ lì shā mǎ de sūn zi 、 ní tàn yǎ de ér zi yǐ shí mǎ lì dài zhe shí gè rén lái , shā le jī dà lì hé tóng tā zài mǐ sī bā de yóu dà rén yǔ jiā lè dǐ rén 。

Nhưng tháng bảy, ỗch-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, cháu Ê-li-sa-ma, về dòng dõi vua, đến tại Mích-ba, có mười người đi theo, đánh Ghê-đa-lia, và giết người luôn với người Giu-đa và người Canh-đê ở với người.

yú shì zhòng mín , wú lùn dà xiǎo , lián zhòng jūn zhǎng ; yīn wèi jù pà jiā lè dǐ rén , dōu qǐ shēn wǎng āi jí qù le 。

Cả dân sự, từ nhỏ đến lớn, và những quan tướng, bèn chổi dậy, đi đến xứ Ê-díp-tô, bởi vì sợ người Canh-đê báo thù.

·使

yóu dà wáng yuē yǎ jīn bèi lǔ hòu sān shí qī nián , bā bǐ lún wáng yǐ wèi · mǐ luó dá yuán nián shí èr yuè èr shí qī rì , shǐ yóu dà wáng yuē yǎ jīn tái tóu , tí tā chū jiān ;

Năm thứ ba mươi bảy từ khi Giê-hô-gia-kin, vua Giu-đa, phải giam, ngày hai mươi bảy tháng mười hai, Ê-vinh-mê-rô-đác, vua Ba-by-lôn, năm đầu tức vị, tha cho Giê-hô-gia-kin, vua Giu-đa, ra khỏi ngục.

使

yòu duì tā shuō ēn yán , shǐ tā de wèi gāo guò yǔ tā yì tóng zài bā bǐ lún zhòng wáng de wèi ,

Người nói với Giê-hô-gia-kin lời hòa nhã, và đặt ngôi người cao hơn ngôi các vua đồng với người tại Ba-by-lôn.

gěi tā tuō le qiú fú 。 tā zhōng shēn cháng zài bā bǐ lún wáng miàn qián chī fàn 。

Người biểu lột áo tù của Giê-hô-gia-kin, và cho người ăn đồng bàn với mình trọn đời người.

wáng cì tā suǒ xū yòng de shí wù , rì rì cì tā yì fēn , zhōng shēn dōu shì zhè yàng 。

Lại trọn đời người, vua hằng ngày lo phù cấp lương thực cho người.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.