中文圣经

II SA-MU-ÊN 7

đã biết 0/249

使

wáng zhù zài zì jǐ gōng zhōng , yē hé huá shǐ tā ān jìng , bú bèi sì wéi de chóu dí rǎo luàn 。

Khi vua đã ngự trong cung mình, và Đức Giê-hô-va đã giải cứu người khỏi các kẻ thù nghịch chung quanh mình, khiến cho người được bình an,

:「。」

nà shí , wáng duì xiān zhī ná dān shuō :「 kàn nǎ , wǒ zhù zài xiāng bǎi mù de gōng zhōng , shén de yuē guì fǎn zài màn zǐ lǐ 。」

thì vua nói cùng tiên tri Na-than rằng: Hãy xem, ta ngự trong cái cung bằng bá hương, còn hòm của Đức Chúa Trời lại ở dưới màn trướng.

:「。」

ná dān duì wáng shuō :「 nǐ kě yǐ zhào nǐ de xīn yì ér xíng , yīn wèi yē hé huá yǔ nǐ tóng zài 。」

Na-than thưa cùng vua rằng: Hễ trong lòng vua có ý làm gì, thì hãy làm, vì Đức Giê-hô-va ở cùng vua.

dāng yè , yē hé huá de huà lín dào ná dān shuō :

Nhưng trong lúc ban đêm, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Na-than rằng:

:『殿

「 nǐ qù gào sù wǒ pú rén dà wèi , shuō yē hé huá rú cǐ shuō :『 nǐ qǐ kě jiàn zào diàn yǔ gěi wǒ jū zhù ne ?

Hãy đi nói cùng Đa-vít, tôi tớ ta, rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Người há sẽ xây cho ta một cái đền để ta ngự tại đó sao?

殿

zì cóng wǒ lǐng yǐ sè liè rén chū āi jí zhí dào jīn rì , wǒ wèi céng zhù guò diàn yǔ , cháng zài huì mù hé zhàng mù zhōng háng zǒu 。

Ngươi biết từ ngày ta đưa dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô cho đến ngày nay, ta chẳng có ngự trong đền nào, nhưng hằng đi đó đây dưới trại và nhà tạm.

殿?』

fán wǒ tóng yǐ sè liè rén suǒ zǒu de dì fāng , wǒ hé céng xiàng yǐ sè liè yì zhī pài dī shì shī , jiù shì wǒ fēn fù mù yǎng wǒ mín yǐ sè liè de shuō : nǐ men wèi hé bù gěi wǒ jiàn zào xiāng bǎi mù de diàn yǔ ne ?』

Khắp nơi nào ta ngự qua với dân Y-sơ-ra-ên, ta há có phán lời gì cùng một trưởng nào trong các chi phái Y-sơ-ra-ên, là kẻ ta dặn chăn dân sự ta, sao? Ta há có phán cùng chúng nó rằng: Cớ sao các ngươi không dựng cho ta một đền thờ bằng gỗ bá hương?

:『

「 xiàn zài , nǐ yào gào sù wǒ pú rén dà wèi , shuō wàn jūn zhī yē hé huá rú cǐ shuō :『 wǒ cóng yáng juàn zhōng jiāng nǐ zhào lái , jiào nǐ bú zài gēn cóng yáng qún , lì nǐ zuò wǒ mín yǐ sè liè de jūn 。

Vậy bây giờ, ngươi hãy nói cùng Đa-vít, kẻ tôi tớ ta, như vầy: Đức Giê-hô-va vạn quân có phán như vầy: Ta đã gọi ngươi từ giữa đồng cỏ, từ nơi ngươi chăn chiên, đặng lập ngươi làm kẻ dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên của ta.

使

nǐ wú lùn wǎng nǎ lǐ qù , wǒ cháng yǔ nǐ tóng zài , jiǎn chú nǐ de yí qiè chóu dí 。 wǒ bì shǐ nǐ dé dà míng , hǎo xiàng shì shàng dà dà yǒu míng de rén yí yàng 。

Ta đã ở cùng ngươi trong mọi công việc ngươi làm, tuyệt diệt các kẻ thù nghịch ngươi khỏi trước mặt ngươi, khiến cho ngươi được danh lớn như danh người sang trọng của thế gian.

使

wǒ bì wèi wǒ mín yǐ sè liè xuǎn dìng yí gè dì fāng , zāi péi tā men , shǐ tā men zhù zì jǐ de dì fāng , bú zài qiān yí ; xiōng è zhī zǐ yě bú xiàng cóng qián rǎo hài tā men ,

Ta đã sắm sẵn một chỗ cho dân Y-sơ-ra-ên ta, làm cho nó châm rễ tại đó, và nó sẽ ở nơi mình, chẳng còn bị quấy rối nữa; các con loài ác sẽ chẳng hà hiếp nó nữa như ngày xưa,

使

bìng bú xiàng wǒ mìng shì shī zhì lǐ wǒ mín yǐ sè liè de shí hòu yí yàng 。 wǒ bì shǐ nǐ ān jìng , bú bèi yí qiè chóu dí rǎo luàn , bìng qiě wǒ — yē hé huá yīng xǔ nǐ , bì wèi nǐ jiàn lì jiā shì 。

tức là như lúc ta lập quan xét trị dân Y-sơ-ra-ên ta. Ta đã giải cứu ngươi khỏi các thù nghịch ngươi mà ban bình an cho ngươi. Rốt lại, Đức Giê-hô-va phán hứa rằng Ngài sẽ dựng cho ngươi một cái nhà.

寿使

nǐ shòu shù mǎn zú 、 yǔ nǐ liè zǔ tóng shuì de shí hòu , wǒ bì shǐ nǐ de hòu yì jiē xù nǐ de wèi ; wǒ yě bì jiān dìng tā de guó 。

Khi các ngày ngươi đã mãn, và ngươi ngủ với các tổ phụ ngươi, thì ta sẽ lập dòng giống ngươi kế vị ngươi, là dòng giống do ngươi sanh ra, và ta sẽ khiến cho nước nó bền vững.

殿

tā bì wèi wǒ de míng jiàn zào diàn yǔ ; wǒ bì jiān dìng tā de guó wèi , zhí dào yǒng yuǎn 。

Nó sẽ xây một đền thờ cho danh ta, và ta sẽ khiến cho ngôi cùng nước nó bền đổ đời đời.

wǒ yào zuò tā de fù , tā yào zuò wǒ de zǐ ; tā ruò fàn le zuì , wǒ bì yòng rén de zhàng zé dǎ tā , yòng rén de biān zé fá tā 。

Ta sẽ làm cha nó, nó sẽ làm con ta. Nếu nó phạm tội ác, tất ta sẽ sửa phạt nó bằng roi và thương vít loài người;

dàn wǒ de cí ài réng bù lí kāi tā , xiàng lí kāi zài nǐ miàn qián suǒ fèi qì de sǎo luó yí yàng 。

nhưng ta sẽ không rút ân điển ta khỏi nó như ta rút khỏi Sau-lơ, là kẻ ta đã trừ diệt khỏi trước mặt ngươi.

。』」

nǐ de jiā hé nǐ de guó bì zài wǒ miàn qián yǒng yuǎn jiān lì 。 nǐ de guó wèi yě bì jiān dìng , zhí dào yǒng yuǎn 。』」

Như vậy, nhà ngươi và nước ngươi được bền đổ trước mặt ngươi đời đời; ngôi ngươi sẽ được vững lập đến mãi mãi.

ná dān jiù àn zhè yí qiè huà , zhào zhè mò shì , gào sù dà wèi 。

Na-than đến thuật lại cho Đa-vít mọi lời nầy và sự mặc thị nầy.

:「使

yú shì dà wèi wáng jìn qù , zuò zài yē hé huá miàn qián , shuō :「 zhǔ yē hé huá a , wǒ shì shuí ? wǒ de jiā suàn shén me ? nǐ jìng shǐ wǒ dào zhè dì bù ne ?

Vua Đa-vít bèn đi đến hầu trước mặt Đức Giê-hô-va, mà nói rằng: Lạy Chúa Giê-hô-va, tôi là ai, họ hàng tôi là gì, mà Chúa đã đem tôi đến nơi nầy?

zhǔ yē hé huá a , zhè zài nǐ yǎn zhōng hái kàn wèi xiǎo , yòu yīng xǔ nǐ pú rén de jiā zhì yú jiǔ yuǎn 。 zhǔ yē hé huá a , zhè qǐ shì rén suǒ cháng yù de shì ma ?

Lạy Chúa Giê-hô-va, điều đó Chúa há còn cho là nhỏ mọn sao, nên Chúa lại nói về nhà của tôi tớ Chúa trong buổi lâu về sau? Lạy Chúa Giê-hô-va, điều nầy há theo cách thường của loài người sao?

zhǔ yē hé huá a , wǒ hái yǒu hé yán kě yǐ duì nǐ shuō ne ? yīn wèi nǐ zhī dào nǐ de pú rén 。

Đa-vít còn nói thêm được lời chi nữa? Oâi Chúa Giê-hô-va! Chúa biết kẻ tôi tớ Chúa.

使

nǐ xíng zhè dà shì shǐ pú rén zhī dào , shì yīn nǐ suǒ yīng xǔ de huà , yě shì zhào nǐ de xīn yì 。

Aáy vì lời Chúa và tùy theo lòng Ngài mà Chúa đã làm những việc lớn nầy, và tỏ cho kẻ tôi tớ Chúa biết.

zhǔ yē hé huá a , nǐ běn wèi dà , zhào wǒ men ěr zhōng tīng jiàn , méi yǒu kě bǐ nǐ de ; chú nǐ yǐ wài zài wú shén 。

Vì vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ôi! Ngài là rất lớn, chẳng có ai giống như Ngài, và chẳng có Đức Chúa Trời nào khác hơn Ngài, như lỗ tai chúng tôi đã nghe.

shì shàng yǒu hé mín néng bǐ nǐ de mín yǐ sè liè ne ? nǐ cóng āi jí jiù shú tā men zuò zì jǐ de zǐ mín , yòu zài nǐ shú chū lái de mín miàn qián xíng dà ér kě wèi de shì , qū zhú liè bāng rén hé tā men de shén , xiǎn chū nǐ de dà míng 。

Chớ thì trên khắp thế gian có dân tộc nào giống như dân của Chúa, là Y-sơ-ra-ên, một dân tộc mà Đức Chúa Trời đã đi chuộc lại đặng làm dân của Ngài? Hầu cho Chúa được danh lớn, nên Chúa nhơn vì chúng tôi, nhơn vì xứ của Ngài, mà làm việc lớn lao đáng sợ nầy: Chúa đã đuổi những dân tộc và thần tượng chúng nó khỏi trước mặt dân sự mà Chúa đã chuộc ra khỏi xứ Ê-díp-tô, đặng nó thuộc riêng về Ngài.

nǐ céng jiān lì nǐ de mín yǐ sè liè zuò nǐ de zǐ mín , zhí dào yǒng yuǎn ; nǐ — yē hé huá yě zuò le tā men de shén 。

Vì Chúa đã lập dân Y-sơ-ra-ên làm dân của Chúa đời đời; còn Chúa, ôi Đức Giê-hô-va! làm Đức Chúa Trời của dân đó.

「 yē hé huá shén a , nǐ suǒ yīng xǔ pú rén hé pú rén jiā de huà , qiú nǐ jiān dìng , zhí dào yǒng yuǎn ; zhào nǐ suǒ shuō de ér xíng 。

Vậy, bây giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ôi! xin hãy làm cho vững chắc đến đời đời những lời Chúa đã phán về kẻ tôi tớ Chúa và về nhà nó, cùng làm y như Chúa đã phán vậy.

:『 。』

yuàn rén yǒng yuǎn zūn nǐ de míng wèi dà , shuō :『 wàn jūn zhī yē hé huá shì zhì lǐ yǐ sè liè de shén 。』 zhè yàng , nǐ pú rén dà wèi de jiā bì zài nǐ miàn qián jiān lì 。

Nguyện danh Chúa được ngợi khen mãi mãi, và người ta nói rằng: Giê-hô-va vạn quân là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Nguyện nhà Đa-vít, là kẻ tôi tớ Chúa, được vững bền trước mặt Chúa!

:『』,

wàn jūn zhī yē hé huá — yǐ sè liè de shén a , yīn nǐ qǐ shì nǐ de pú rén shuō :『 wǒ bì wèi nǐ jiàn lì jiā shì 』, suǒ yǐ pú rén dà dǎn xiàng nǐ rú cǐ qí dǎo 。

Vả lại, hỡi Giê-hô-va vạn quân! là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, chính Chúa đã phán lời hứa nầy cùng kẻ tôi tớ Chúa rằng: Ta sẽ dựng nhà cho ngươi. Bởi cớ đó, kẻ tôi tớ Chúa nói dạn dĩ mà cầu xin Chúa mấy lời nầy.

「 zhǔ yē hé huá a , wéi yǒu nǐ shì shén 。 nǐ de huà shì zhēn shí de ; nǐ yě yīng xǔ jiāng zhè fú qì cì gěi pú rén 。

Vậy bây giờ, hỡi Chúa Giê-hô-va! Ngài là Đức Chúa Trời, và các lời của Ngài là chân thật; Chúa đã hứa cùng kẻ tôi tớ Chúa làm cho nó những ơn phước nầy.

!」

xiàn zài qiú nǐ cì fú yǔ pú rén de jiā , kě yǐ yǒng cún zài nǐ miàn qián 。 zhǔ yē hé huá a , zhè shì nǐ suǒ yīng xǔ de 。 yuàn nǐ yǒng yuǎn cì fú yǔ pú rén de jiā !」

Vậy, xin Chúa ban phước cho nhà kẻ tôi tớ Chúa, để nó còn tại trước mặt Chúa đến đời đời; vì, hỡi Chúa Giê-hô-va! ấy là Chúa đã phán; nguyện nhà kẻ tôi tớ Chúa được hưởng phước của Chúa đến mãi mãi.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.