中文圣经

CÔNG VỤ 10

đã biết 0/363

zài kǎi sā lì yà yǒu yí gè rén , míng jiào gē ní liú , shì 「 yì dà lì yíng 」 de bǎi fū zhǎng 。

Trong thành Sê-sa-rê, có một người tên là Cọt-nây, làm đội trưởng của đội binh gọi là Y-ta-li.

tā shì gè qián chéng rén , tā hé quán jiā dōu jìng wèi shén , duō duō zhōu jì bǎi xìng , cháng cháng dǎo gào shén 。

Người vẫn là đạo đức, cùng cả nhà mình đều kính sợ Đức Chúa Trời, người hay bố thí cho dân, và cầu nguyện Đức Chúa Trời luôn không thôi.

使:「。」

yǒu yì tiān , yuē zài shēn chū , tā zài yì xiàng zhōng míng míng kàn jiàn shén de yí gè shǐ zhě jìn qù , dào tā nà lǐ , shuō :「 gē ní liú 。」

Đang ban ngày, nhằm giờ thứ chín, người thấy rõ ràng trong sự hiện thấy có một vị thiên sứ của Đức Chúa Trời vào nhà mình, và truyền rằng: Hỡi Cọt-nây!

:「?」使:「

gē ní liú dìng jīng kàn tā , jīng pà shuō :「 zhǔ a , shén me shì ne ?」 tiān shǐ shuō :「 nǐ de dǎo gào hé nǐ de zhōu jì dá dào shén miàn qián , yǐ méng jì niàn le 。

Đôi mắt người ngó chăm thiên sứ và run sợ lắm, thưa rằng: Lạy Chúa, có việc chi? Thiên sứ nói: Lời cầu nguyện cùng sự bố thí ngươi đã lên thấu Đức Chúa Trời, và Ngài đã ghi nhớ lấy.

西

xiàn zài nǐ dāng dǎ fā rén wǎng yuē pà qù , qǐng nà chēng hu bǐ dé de xī mén lái 。

Vậy, bây giờ hãy sai người đến thành Giốp-bê, mời Si-môn nào đó, cũng gọi là Phi-e-rơ.

西。」

tā zhù zài hǎi biān yí gè xiāo pí jiàng xī mén de jiā lǐ , fáng zi zài hǎi biān shàng 。」

Người hiện trọ nơi Si-môn, là thợ thuộc da, nhà ở gần biển.

使

xiàng tā shuō huà de tiān shǐ qù hòu , gē ní liú jiào le liǎng gè jiā rén hé cháng cì hou tā de yí gè qián chéng bīng lái ,

Khi thiên sứ, là đấng truyền cho người, đã trở lui, thì Cọt-nây gọi hai người trong đám đầy tớ mình và một tên lính tin kính trong những lính thuộc về mình,

bǎ zhè shì dōu shù shuō gěi tā men tīng , jiù dǎ fā tā men wǎng yuē pà qù 。

mà thuật lại mọi điều cho họ nghe, rồi sai đến thành Giốp-bê.

dì èr tiān , tā men xíng lù jiāng jìn nà chéng 。 bǐ dé yuē zài wǔ zhèng , shàng fáng dǐng qù dǎo gào ,

Bữa sau, trong lúc ba người ấy đang đi đường và đã đến gần thành, vừa nhằm giờ thứ sáu Phi-e-rơ leo lên mái nhà để cầu nguyện.

饿

jué de è le , xiǎng yào chī 。 nà jiā de rén zhèng yù bèi fàn de shí hòu , bǐ dé hún yóu xiàng wài ,

Người đói và thèm ăn; khi người ta đang dọn cho ăn, thì người bị ngất trí đi.

kàn jiàn tiān kāi le , yǒu yí wù jiàng xià , hǎo xiàng yí kuài dà bù , xì zhe sì jiǎo , zhuì zài dì shàng ,

Người thấy trời mở ra, và có vật chi giống như một bức khăn lớn níu bốn chéo lên, giáng xuống và sa đến đất:

lǐ miàn yǒu dì shàng gè yàng sì zú de zǒu shòu hé kūn chóng , bìng tiān shàng de fēi niǎo ;

thấy trong đó có những thú bốn cẳng, đủ mọi loài, côn trùng bò trên đất, và chim trên trời.

:「!」

yòu yǒu shēng yīn xiàng tā shuō :「 bǐ dé , qǐ lái , zǎi le chī !」

Lại có tiếng phán cùng người rằng: Hỡi Phi-e-rơ, hãy dậy, làm thịt và ăn.

:「。」

bǐ dé què shuō :「 zhǔ a , zhè shì bù kě de ! fán sú wù hé bù jié jìng de wù , wǒ cóng lái méi yǒu chī guò 。」

Song Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, chẳng vậy; vì tôi chẳng ăn giống gì dơ dáy chẳng sạch bao giờ.

:「 。」

dì èr cì yǒu shēng yīn xiàng tā shuō :「 shén suǒ jié jìng de , nǐ bù kě dàng zuò sú wù 。」

Tiếng đó lại phán cùng người lần thứ hai rằng: Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy.

zhè yàng yì lián sān cì , nà wù suí jí shōu huí tiān shàng qù le 。

Lời đó lặp lại ba lần; rồi vật ấy liền bị thâu lên trên trời.

访西

bǐ dé xīn lǐ zhèng zài cāi yí zhī jiān , bù zhī suǒ kàn jiàn de yì xiàng shì shén me yì sī 。 gē ní liú suǒ chà lái de rén yǐ jīng fǎng wèn dào xī mén de jiā , zhàn zài mén wài ,

Phi-e-rơ đang nghi ngờ về ý nghĩa của sự hiện thấy mình đã thấy, thì các người mà Cọt-nây sai đi đã hỏi thăm được nhà Si-môn, và tới đứng tận cửa.

:「西?」

hǎn zhe wèn :「 yǒu chēng hu bǐ dé de xī mén zhù zài zhè lǐ méi yǒu ?」

Họ kêu và hỏi đây có phải là nơi Si-môn tức Phi-e-rơ ở chăng.

:「

bǐ dé hái sī xiǎng nà yì xiàng de shí hòu , shèng líng xiàng tā shuō :「 yǒu sān gè rén lái zhǎo nǐ 。

Phi-e-rơ còn đang ngẫm nghĩ về sự hiện thấy đó, thì Đức Thánh Linh phán cùng người rằng: Kìa, có ba người đang tìm ngươi.

。」

qǐ lái , xià qù , hé tā men tóng wǎng , bú yào yí huò , yīn wèi shì wǒ chà tā men lái de 。」

Vậy, hãy đứng dậy, xuống mà đi với họ, chớ hồ nghi, vì ta đã sai họ đó.

:「?」

yú shì bǐ dé xià qù jiàn nà xiē rén , shuō :「 wǒ jiù shì nǐ men suǒ zhǎo de rén 。 nǐ men lái shì wèi shén me yuán gù ?」

Phi-e-rơ bèn xuống cùng họ mà nói rằng: Ta đây, là người các ngươi đang tìm; các ngươi đến đây có việc gì?

:「 使。」

tā men shuō :「 bǎi fū zhǎng gē ní liú shì gè yì rén , jìng wèi shén , wèi yóu tài tōng guó suǒ chēng zàn 。 tā méng yí wèi shèng tiān shǐ suǒ zhǐ shì , jiào tā qǐng nǐ dào tā jiā lǐ qù , tīng nǐ de huà 。」

Họ trả lời rằng: Đội trưởng Cọt-nây là người công bình, kính sợ Đức Chúa Trời, cả dân Giu-đa đều làm chứng tốt về người, người đó đã bởi một vị thiên sứ thánh mà chịu mạng lịnh từ nơi cao rằng phải mời ông về nhà và nghe lời ông.

宿

bǐ dé jiù qǐng tā men jìn qù , zhù le yí sù 。 cì rì , qǐ shēn hé tā men tóng qù , hái yǒu yuē pà de jǐ gè dì xiong tóng zhe tā qù ;

Phi-e-rơ bèn mời họ vào nhà và cho trọ tại đó. Ngày mai, Phi-e-rơ chờ dậy đi với họ, có một vài người trong hàng anh em từ Giốp-bê cùng đi với.

yòu cì rì , tā men jìn rù kǎi sā lì yà , gē ní liú yǐ jīng qǐng le tā de qīn shǔ mì yǒu děng hòu tā men 。

Bữa sau, đến thành Sê-sa-rê. Cọt-nây với bà con và bạn thiết mà người đã nhóm lại tại nhà mình đang chờ đợi.

bǐ dé yí jìn qù , gē ní liú jiù yíng jiē tā , fǔ fú zài tā jiǎo qián bài tā 。

Phi-e-rơ vừa vào, thì Cọt-nây ra rước, phục xuống dưới chân người mà lạy.

:「。」

bǐ dé què lā tā , shuō :「 nǐ qǐ lái , wǒ yě shì rén 。」

Nhưng Phi-e-rơ đỡ người dậy, nói rằng: Ngươi hãy đứng dậy, chính ta cũng chỉ là người mà thôi.

bǐ dé hé tā shuō zhe huà jìn qù , jiàn yǒu hǎo xiē rén zài nà lǐ jù jí ,

Phi-e-rơ đang nói chuyện với Cọt-nây, bước vào, thấy có nhiều người nhóm lại.

:「

jiù duì tā men shuō :「 nǐ men zhī dào , yóu tài rén hé bié guó de rén qīn jìn lái wǎng běn shì bù hé lì de , dàn shén yǐ jīng zhǐ shì wǒ , wú lùn shén me rén dōu bù kě kàn zuò sú ér bù jié jìng de 。

Người nói cùng chúng rằng: Người Giu-đa vốn không được phép giao thông với người ngoại quốc hay là tới nhà họ; nhưng Đức Chúa Trời đã tỏ cho ta biết chẳng nên coi một người nào là ô uế hay chẳng sạch.

?」

suǒ yǐ wǒ bèi qǐng de shí hòu , jiù bù tuī cí ér lái 。 xiàn zài qǐng wèn : nǐ men jiào wǒ lái yǒu shén me yì sī ne ?」

Nên khi các ngươi đã sai tìm, thì ta chẳng ngại gì mà đến đây. Vậy ta hỏi vì việc chi mà các ngươi mời ta đến.

:「穿

gē ní liú shuō :「 qián sì tiān , zhè ge shí hòu , wǒ zài jiā zhōng shǒu zhe shēn chū de dǎo gào , hū rán yǒu yí gè rén chuān zhe guāng míng de yī shang , zhàn zài wǒ miàn qián ,

Cọt-nây trả lời rằng: Đã bốn ngày nay, nhằm giờ thứ chín, tôi đang ở nhà cầu nguyện, thình lình có một người mặc áo sáng lòa, hiện ra trước mặt tôi,

:『

shuō :『 gē ní liú , nǐ de dǎo gào yǐ méng chuí tīng , nǐ de zhōu jì dá dào shén miàn qián yǐ méng jì niàn le 。

mà phán rằng: Hỡi Cọt-nây, lời cầu nguyện ngươi đã được nhậm, Đức Chúa Trời đã ghi nhớ việc bố thí của ngươi.

西西。』

nǐ dāng dǎ fā rén wǎng yuē pà qù , qǐng nà chēng hū bǐ dé de xī mén lái , tā zhù zài hǎi biān yí gè xiāo pí jiàng xī mén de jiā lǐ 。』

Vậy, ngươi hãy sai đến thành Giốp-bê, mời Si-môn, là Phi-e-rơ đến đây: người đang ở tại nhà Si-môn, thợ thuộc da, gần biển.

。」

suǒ yǐ wǒ lì shí dǎ fā rén qù qǐng nǐ 。 nǐ lái le hěn hǎo ; xiàn jīn wǒ men dōu zài shén miàn qián , yào tīng zhǔ suǒ fēn fù nǐ de yí qiè huà 。」

Tức thì tôi sai tìm ông, mà ông đến đây là rất phải. Vậy, bây giờ, thay thảy chúng tôi đang ở trước mặt Đức Chúa Trời, để nghe mọi điều Chúa đã dặn ông nói cho chúng tôi.

:「

bǐ dé jiù kāi kǒu shuō :「 wǒ zhēn kàn chū shén shì bù piān dài rén 。

Phi-e-rơ bèn mở miệng nói rằng: Quả thật, ta biết Đức Chúa Trời chẳng hề vị nể ai,

yuán lái , gè guó zhōng nà jìng wèi zhǔ 、 xíng yì de rén dōu wéi zhǔ suǒ yuè nà 。

nhưng trong các dân, hễ ai kính sợ Ngài và làm sự công bình, thì nấy được đẹp lòng Chúa.

shén jiè zhe yē sū jī dū ( tā shì wàn yǒu de zhǔ ) chuán hé píng de fú yīn , jiāng zhè dào cì gěi yǐ sè liè rén 。

Aáy là lời Ngài đã phán cùng con cái Y-sơ-ra-ên, khi rao giảng tin lành về sự bình an bởi Đức Chúa Jêsus-Christ, tức là Chúa của loài người.

zhè huà zài yuē hàn xuān chuán xǐ lǐ yǐ hòu , cóng jiā lì lì qǐ , chuán biàn le yóu tài 。

Việc đã bắt đầu từ xứ Ga-li-lê rồi tràn ra trong cả xứ Giu-đê, kế sau Giăng đã giảng ra phép báp-tem, thì các ngươi biết rồi;

shén zěn yàng yǐ shèng líng hé néng lì gāo ná sā lè rén yē sū , zhè dōu shì nǐ men zhī dào de 。 tā zhōu liú sì fāng , xíng shàn shì , yī hǎo fán bèi mó guǐ yā zhì de rén , yīn wèi shén yǔ tā tóng zài 。

thể nào Đức Chúa Trời đã xức cho Đức Chúa Jêsus ở Na-xa-rét bằng Đức Thánh Linh và quyền phép, rồi Ngài đi từ nơi nọ qua chỗ kia làm phước và chữa lành hết thảy những người bị ma quỉ ức hiếp; vì Đức Chúa Trời ở cùng Ngài.

tā zài yóu tài rén zhī dì , bìng yē lù sā lěng suǒ xíng de yí qiè shì , yǒu wǒ men zuò jiàn zhèng 。 tā men jìng bǎ tā guà zài mù tou shàng shā le 。

Chúng ta từng chứng kiến về mọi điều Ngài đã làm trong xứ người Giu-đa và tại thành Giê-ru-sa-lem. Chúng đã treo Ngài trên cây gỗ mà giết đi.

dì sān rì , shén jiào tā fù huó , xiǎn xiàn chū lái ;

Nhưng ngày thứ ba, Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại, lại cho Ngài được tỏ ra,

bú shì xiǎn xiàn gěi zhòng rén kàn , nǎi shì xiǎn xiàn gěi shén yù xiān suǒ jiǎn xuǎn wèi tā zuò jiàn zhèng de rén kàn , jiù shì wǒ men zhè xiē zài tā cóng sǐ lǐ fù huó yǐ hòu hé tā tóng chī tóng hē de rén 。

chẳng hiện ra với cả dân chúng, nhưng với những kẻ làm chứng mà Đức Chúa Trời đã chọn trước, tức là với chúng ta, là kẻ đã ăn uống cùng Ngài, sau khi Ngài từ trong kẻ chết sống lại.

tā fēn fù wǒ men chuán dào gěi zhòng rén , zhèng míng tā shì shén suǒ lì dìng de , yào zuò shěn pàn huó rén 、 sǐ rén de zhǔ 。

Lại Ngài đã biểu chúng ta khá giảng dạy cho dân chúng, và chứng quyết chính Ngài là Đấng Đức Chúa Trời đã lập lên để đoán xét kẻ sống và kẻ chết.

:『。』」

zhòng xiān zhī yě wèi tā zuò jiàn zhèng shuō :『 fán xìn tā de rén bì yīn tā de míng dé méng shè zuì 。』」

Hết thảy các đấng tiên tri đều làm chứng nầy về Ngài rằng hễ ai tin Ngài thì được sự tha tội vì danh Ngài.

bǐ dé hái shuō zhè huà de shí hòu , shèng líng jiàng zài yí qiè tīng dào de rén shēn shàng 。

Khi Phi-e-rơ đang nói, thì Đức Thánh Linh giáng trên mọi người nghe đạo.

nà xiē fèng gē lǐ 、 hé bǐ dé tóng lái de xìn tú , jiàn shèng líng de ēn cì yě jiāo zài wài bāng rén shēn shàng , jiù dōu xī qí ;

Các tín đồ đã chịu phép cắt bì, là những kẻ đồng đến với Phi-e-rơ, đều lấy làm lạ, vì thấy sự ban cho Đức Thánh Linh cũng đổ ra trên người ngoại nữa.

yīn tīng jiàn tā men shuō fāng yán , chēng zàn shén wèi dà 。

Vì các tín đồ đó nghe họ nói tiếng ngoại quốc và khen ngợi Đức Chúa Trời.

:「?」

yú shì bǐ dé shuō :「 zhè xiē rén jì shòu le shèng líng , yǔ wǒ men yí yàng , shuí néng jìn zhǐ yòng shuǐ gěi tā men shī xǐ ne ?」

Bấy giờ Phi-e-rơ lại cất tiếng nói rằng: Người ta có thể từ chối nước về phép báp-tem cho những kẻ đã nhận lấy Đức Thánh Linh cũng như chúng ta chăng?

jiù fēn fù fèng yē sū jī dū de míng gěi tā men shī xǐ 。 tā men yòu qǐng bǐ dé zhù le jǐ tiān 。

Người lại truyền làm phép báp-tem cho họ nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ. Họ bèn nài người ở lại với mình một vài ngày.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.