中文圣经

CÔNG VỤ 12

đã biết 0/271

nà shí , xī lǜ wáng xià shǒu kǔ hài jiào huì zhōng jǐ gè rén ,

Đang thuở đó, vua Hê-rốt hà hiếp một vài người trong Hội thánh.

yòng dāo shā le yuē hàn de gē ge yǎ gè 。

Vua dùng gươm giết Gia-cơ là anh của Giăng;

tā jiàn yóu tài rén xǐ huan zhè shì , yòu qù zhuō ná bǐ dé 。 nà shí zhèng shì chú jiào de rì zi 。

thấy điều đó vừa ý người Giu-đa, nên cũng sai bắt Phi-e-rơ nữa.

xī lǜ ná le bǐ dé , shōu zài jiān lǐ , jiāo fù sì bān bīng dīng kān shǒu , měi bān sì gè rén , yì sī yào zài yú yuè jié hòu bǎ tā tí chū lái , dāng zhe bǎi xìng bàn tā 。

Bấy giờ nhằm ngày ăn bánh không men. Vậy, vua bắt người và hạ ngục, phó cho bốn ngũ binh canh giữ, mỗi ngũ có bốn tên lính. Vua toan đợi lúc xong lễ Vượt Qua, thì bắt người ra hầu trước mặt dân chúng.

yú shì bǐ dé bèi qiú zài jiān lǐ ; jiào huì què wèi tā qiè qiè dì dǎo gào shén 。

Vậy, Phi-e-rơ bị cầm trong khám, còn Hội thánh cứ cầu nguyện Đức Chúa Trời cho người luôn.

xī lǜ jiāng yào tí tā chū lái de qián yí yè , bǐ dé bèi liǎng tiáo tiě liàn suǒ zhe , shuì zài liǎng gè bīng dīng dāng zhōng ; kān shǒu de rén yě zài mén wài kān shǒu 。

Vả, đêm rạng ngày mà Hê-rốt định bắt Phi-e-rơ ra hầu, người đang mang hai xiềng, ngủ giữa hai tên lính, và trước cửa có quân canh giữ ngục.

使耀使:「!」

hū rán , yǒu zhǔ de yí gè shǐ zhě zhàn zài páng biān , wū lǐ yǒu guāng zhào yào , tiān shǐ pāi bǐ dé de lèi páng , pāi xǐng le tā , shuō :「 kuài kuài qǐ lái !」 nà tiě liàn jiù cóng tā shǒu shàng tuō luò xià lái 。

Thình lình, một thiên sứ của Chúa đến, và có ánh sáng soi trong ngục tối. Thiên sứ đập vào sường Phi-e-rơ, đánh thức người, mà rằng: Hãy mau chờ dậy. Xiềng bèn rớt ra khỏi tay người.

使:「穿。」使:「。」

tiān shǐ duì tā shuō :「 shù shàng dài zǐ , chuān shàng xié 。」 tā jiù nà yàng zuò 。 tiān shǐ yòu shuō :「 pī shàng wài yī , gēn zhe wǒ lái 。」

Kế đó, thiên sứ nói rằng: Hãy nịt lưng và mang dép vào đi. Phi-e-rơ làm theo. Thiên sứ lại tiếp: Hãy mặc áo ngoài và theo ta.

使

bǐ dé jiù chū lái gēn zhe tā , bù zhī dào tiān shǐ suǒ zuò shì zhēn de , zhǐ dāng jiàn le yì xiàng 。

Phi-e-rơ ra theo; chẳng biết điều thiên sứ làm đó là thật, song tưởng mình thấy sự hiện thấy.

使便

guò le dì yī céng dì èr céng jiān láo , jiù lái dào lín jiē de tiě mén , nà mén zì jǐ kāi le 。 tā men chū lái , zǒu guò yì tiáo jiē , tiān shǐ biàn lí kāi tā qù le 。

Khi qua khỏi vọng canh thứ nhất, rồi vọng thứ nhì, thì đến nơi cửa sắt, là cửa thông vào thành; cửa đó tự mở ra trước mặt hai người, rồi hai người vượt ra khỏi, đi lên đàng cái, tức thì thiên sứ lìa Phi-e-rơ.

:「使。」

bǐ dé xǐng wù guò lái , shuō :「 wǒ xiàn zài zhēn zhī dào zhǔ chāi qiǎn tā de shǐ zhě , jiù wǒ tuō lí xī lǜ de shǒu hé yóu tài bǎi xìng yí qiè suǒ pàn wàng de 。」

Phi-e-rơ bèn tỉnh lại và nói rằng: Bây giờ ta nhận biết thật Đức Chúa Trời đã sai thiên sứ Ngài giải cứu ta ra khỏi tay Hê-rốt cùng khỏi điều dân Giu-đa đang mong đợi.

xiǎng le yì xiǎng , jiù wǎng nà chēng hu mǎ kě de yuē hàn 、 tā mǔ qīn mǎ lì yà jiā qù , zài nà lǐ yǒu hǎo xiē rén jù jí dǎo gào 。

Người suy nghĩ lại điều đó, rồi đến nhà Ma-ri, mẹ của Giăng, cũng gọi là Mác, là nơi có nhiều người đang nhóm lại cầu nguyện.

使

bǐ dé qiāo wài mén , yǒu yí gè shǐ nǚ , míng jiào luó dà , chū lái tàn tīng ,

Người gõ cửa nhà ngoài, một con đòi tên là Rô-đơ đến nghe,

:「。」

tīng dé shì bǐ dé de shēng yīn , jiù huān xǐ de gù bù dé kāi mén , pǎo jìn qù gào sù zhòng rén shuō :「 bǐ dé zhàn zài mén wài 。」

nhận biết tiếng Phi-e-rơ nên mừng rỡ lắm, đến nỗi chẳng mở cửa, nhưng trở chạy vào báo tin rằng Phi-e-rơ đang đứng trước cửa.

:「!」使:「!」:「使!」

tā men shuō :「 nǐ shì fēng le !」 shǐ nǚ jí lì dì shuō :「 zhēn shì tā !」 tā men shuō :「 bì shì tā de tiān shǐ !」

Người ta nói rằng: Mầy sảng. Song nàng quyết là quả thật. Họ bèn nói: Aáy là thiên sứ của người.

bǐ dé bú zhù dì qiāo mén 。 tā men kāi le mén , kàn jiàn tā , jiù shèn jīng qí 。

Nhưng Phi-e-rơ cứ gõ cửa hoài. Khi mở cửa, thấy Phi-e-rơ, hết thảy đều kinh hãi.

:「。」

bǐ dé bǎi shǒu , bú yào tā men zuò shēng , jiù gào sù tā men zhǔ zěn yàng lǐng tā chū jiān ; yòu shuō :「 nǐ men bǎ zhè shì gào sù yǎ gè hé zhòng dì xiong 。」 yú shì chū qù , wǎng bié chù qù le 。

Nhưng người lấy tay ra dấu biểu chúng làm thinh, rồi thuật lại cho biết Chúa đã dùng cách nào cứu mình khỏi ngục; đoạn, người lại dặn rằng: Hãy cho Gia-cơ và anh em biết điều nầy. Rồi đó, người bước ra sang nơi khác.

dào le tiān liàng , bīng dīng rǎo luàn dé hěn , bù zhī dào bǐ dé wǎng nǎ lǐ qù le 。

Đến sáng, trong bọn lính có sự xôn xao rất lớn: vì chúng nó chẳng hay Phi-e-rơ đi đâu.

xī lǜ zhǎo tā , zhǎo bù zhe , jiù shěn wèn kān shǒu de rén , fēn fù bǎ tā men lā qù shā le 。 hòu lái xī lǜ lí kāi yóu tài , xià kǎi sā lì yà qù , zhù zài nà lǐ 。

Vua Hê-rốt sai tìm người, nhưng tìm chẳng được, bèn tra hỏi bọn lính, rồi truyền lịnh dẫn chúng nó đi giết. Đoạn, người từ xứ Giu-đê xuống thành Sê-sa-rê, ở lại tại đó.

西

xī lǜ nǎo nù tài ěr 、 xī dùn de rén 。 tā men nà yí dài dì fāng shì cóng wáng de dì tǔ dé liáng , yīn cǐ jiù tuō le wáng de nèi shì chén bó lā sī dōu de qíng , yì xīn lái qiú hé 。

Vả, vua Hê-rốt căm giận dân thành Ty-rơ và dân thành Si-đôn. Chúng đã được lòng quan hầu của vua là Ba-la-tút rồi, bèn đồng lòng đến cùng vua mà xin hòa, vì xứ họ ăn nhờ lương thực trong xứ vua.

穿

xī lǜ zài suǒ dìng de rì zi , chuān shàng cháo fú , zuò zài wèi shàng , duì tā men jiǎng lùn yì fān 。

Đến kỳ, vua Hê-rốt mặc áo chầu, ngồi trên ngai, truyền phán giữa công chúng.

:「。」

bǎi xìng hǎn zhe shuō :「 zhè shì shén de shēng yīn , bú shì rén de shēng yīn 。」

Dân chúng kêu lên rằng: Aáy là tiếng của một thần, chẳng phải tiếng người ta đâu!

耀 使

xī lǜ bù guī róng yào gěi shén , suǒ yǐ zhǔ de shǐ zhě lì kè fá tā , tā bèi chóng suǒ yǎo , qì jiù jué le 。

Liền lúc đó, có thiên sứ của Chúa đánh vua Hê-rốt, bởi cớ chẳng nhường sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời; và vua bị trùng đục mà chết.

广

shén de dào rì jiàn xīng wàng , yuè fā guǎng chuán 。

Bấy giờ, đạo Đức Chúa Trời tấn tới rất nhiều, càng ngày càng tràn thêm ra.

bā ná bā hé sǎo luó bàn wán le tā men gòng gěi de shì , jiù cóng yē lù sā lěng huí lái , dài zhe chēng hu mǎ kě de yuē hàn tóng qù 。

Ba-na-ba và Sau-lơ làm chức vụ mình xong rồi, bèn từ thành Giê-ru-sa-lem trở về thành An-ti-ốt, dẫn theo Giăng, cũng gọi là Mác.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.