中文圣经

CÔNG VỤ 13

đã biết 0/451

西

zài ān tí ā de jiào huì zhōng , yǒu jǐ wèi xiān zhī hé jiào shī , jiù shì bā ná bā hé chēng hu ní jié de xī miàn 、 gǔ lì nài rén lù qiú , yǔ fēn fēng zhī wáng xī lǜ tóng yǎng de mǎ niàn , bìng sǎo luó 。

Trong Hội thánh tại thành An-ti-ốt có mấy người tiên tri và mấy thầy giáo sư, tức là: Ba-na-ba, Si-mê-ôn gọi là Ni-giê, Lu-si-út người Sy-ren, Ma-na-hem là người đồng dưỡng với vua chư hầu Hê-rốt, cùng Sau-lơ.

:「。」

tā men shì fèng zhǔ 、 jìn shí de shí hòu , shèng líng shuō :「 yào wèi wǒ fēn pài bā ná bā hé sǎo luó , qù zuò wǒ zhào tā men suǒ zuò de gōng 。」

Đang khi môn đồ thờ phượng Chúa và kiêng ăn, thì Đức Thánh Linh phán rằng: Hãy để riêng Ba-na-ba và Sau-lơ đặng làm công việc ta đã gọi làm.

yú shì jìn shí dǎo gào , àn shǒu zài tā men tóu shàng , jiù dǎ fā tā men qù le 。

Đã kiêng ăn và cầu nguyện xong, môn đồ bèn đặt tay trên hai người, rồi để cho đi.

西

tā men jì bèi shèng líng chāi qiǎn , jiù xià dào xī liú jī , cóng nà lǐ zuò chuán wǎng sāi pǔ lù sī qù 。

Vậy, Sau-lơ và Ba-na-ba đã chịu Đức Thánh Linh sai đi, bèn xuống thành Sê-lơ-xi, rồi từ đó đi thuyền đến đảo Chíp-rơ.

dào le sā lā mǐ , jiù zài yóu tài rén gè huì táng lǐ chuán jiǎng shén de dào , yě yǒu yuē hàn zuò tā men de bāng shǒu 。

Đến thành Sa-la-min, hai người giảng đạo Đức Chúa Trời trong các nhà hội của người Giu-đa; cũng có Giăng cùng đi để giúp cho.

·

jīng guò quán dǎo , zhí dào pà fú , zài nà lǐ yù jiàn yí gè yǒu fǎ shù 、 jiǎ chōng xiān zhī de yóu tài rén , míng jiào bā · yē sū 。

Trải qua cả đảo cho đến thành Ba-phô rồi, gặp một người Giu-đa kia, là tay thuật sĩ và tiên tri giả, tên là Ba-Giê-su,

··

zhè rén cháng hé fāng bó shì qiú · bǎo luó tóng zài 。 shì qiú · bǎo luó shì gè tōng dá rén , tā qǐng le bā ná bā hé sǎo luó lái , yào tīng shén de dào 。

vốn ở với quan trấn thủ tên là Sê-giúp Phau-lút là người khôn ngoan. Người nầy đã sai mời Ba-na-ba và Sau-lơ đến, và xin nghe đạo Đức Chúa Trời.

使

zhǐ shì nà xíng fǎ shù de yǐ lǚ mǎ ( zhè míng fān chū lái jiù shì xíng fǎ shù de yì sī ) dí dǎng shǐ tú , yào jiào fāng bó bú xìn zhēn dào 。

Nhưng Ê-ly-ma, tức là thuật sĩ (ấy là ý-nghĩa tên người), ngăn hai người đó, ráng sức tìm phương làm cho quan trấn thủ không tin.

sǎo luó yòu míng bǎo luó , bèi shèng líng chōng mǎn , dìng jīng kàn tā ,

Bấy giờ, Sau-lơ cũng gọi là Phao-lô, đầy dẫy Đức Thánh Linh, đối mặt nhìn người, nói rằng:

:「

shuō :「 nǐ zhè chōng mǎn gè yàng guǐ zhà jiān è , mó guǐ de ér zi , zhòng shàn de chóu dí , nǐ hùn luàn zhǔ de zhèng dào hái bù zhǐ zhù ma ?

Hỡi người đầy mọi thứ gian trá và hung ác, con của ma quỉ, thù nghịch cùng cả sự công bình, ngươi cứ làm hư đường thẳng của Chúa không thôi sao?

。」

xiàn zài zhǔ de shǒu jiā zài nǐ shēn shàng , nǐ yào xiā yǎn , zàn qiě bú jiàn rì guāng 。」 tā de yǎn jīng lì kè hūn méng hēi àn , sì xià lǐ qiú rén lā zhuó shǒu lǐng tā 。

Nầy, bây giờ tay Chúa giá trên ngươi; ngươi sẽ bị mù, không thấy mặt trời trong ít lâu. Chính lúc đó, có sự mù mịt tối tăm phủ trên người, người xây quanh bốn phía, tìm kẻ để dắt mình.

fāng bó kàn jiàn suǒ zuò de shì , hěn xī qí zhǔ de dào , jiù xìn le 。

Quan trấn thủ thấy sự đã xảy đến, bèn tin, lấy làm lạ về đạo Chúa.

bǎo luó hé tā de tóng rén cóng pà fú kāi chuán , lái dào páng fēi lì yà de bié jiā , yuē hàn jiù lí kāi tā men , huí yē lù sā lěng qù 。

Phao-lô với đồng bạn mình xuống thuyền tại Ba-phô, sang thành Bẹt-giê trong xứ Bam-phi-ly. Nhưng Giăng lìa hai người, trở về thành Giê-ru-sa-lem.

西

tā men lí le bié jiā wǎng qián xíng , lái dào bǐ xī dǐ de ān tí ā , zài ān xī rì jìn huì táng zuò xià 。

Về phần hai người, thì lìa thành Bẹt-giê, cứ đi đường đến thành An-ti-ốt xứ Bi-si-đi; rồi nhằm ngày Sa-bát, vào trong nhà hội mà ngồi.

:「。」

dú wán le lǜ fǎ hé xiān zhī de shū , guǎn huì táng de jiào rén guò qù , duì tā men shuō :「 èr wèi xiōng tái , ruò yǒu shén me quàn miǎn zhòng rén de huà , qǐng shuō 。」

Vừa đọc sách luật và sách các tiên tri xong, các chủ nhà hội sai sứ nói cùng hai người rằng: Hỡi anh em, nếu có mấy lời khuyên bảo dân chúng, hãy giảng đi.

:「

bǎo luó jiù zhàn qǐ lái , jǔ shǒu , shuō :「 yǐ sè liè rén hé yí qiè jìng wèi shén de rén , qǐng tīng 。

Phao-lô bèn đứng dậy, lấy tay làm hiệu, rồi nói rằng: Hỡi người Y-sơ-ra-ên và các người kính sợ Đức Chúa Trời, hãy nghe:

zhè yǐ sè liè mín de shén jiǎn xuǎn le wǒ men de zǔ zōng , dāng mín jì jū āi jí de shí hòu tái jǔ tā men , yòng dà néng de shǒu lǐng tā men chū lái ;

Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên nầy đã chọn tổ phụ chúng ta; làm cho dân ấy thạnh vượng lúc ở ngụ nơi ngoại quốc, tức là trong xứ Ê-díp-tô, và Ngài dùng cánh tay cao dẫn họ ra khỏi xứ đó.

yòu zài kuàng yě róng rěn tā men , yuē yǒu sì shí nián 。

Ước chừng bốn mươi năm, Ngài chịu tính nết họ trong nơi đồng vắng.

jì miè le jiā nán dì qī zú de rén , jiù bǎ nà dì fēn gěi tā men wèi yè ;

Lại khi đã phá bảy dân trong xứ Ca-na-an, Ngài khiến họ nhận lấy đất của các dân đó,

cǐ hòu gěi tā men shè lì shì shī , yuē yǒu sì bǎi wǔ shí nián , zhí dào xiān zhī sā mǔ ěr de shí hòu 。

độ trong bốn trăm năm mươi năm; kế đó Ngài lập cho họ các quan đoán xét cho đến đời tiên tri Sa-mu-ên.

便

hòu lái tā men qiú yí gè wáng , shén jiù jiāng biàn yǎ mǐn zhī pài zhōng jī shì de ér zi sǎo luó , gěi tā men zuò wáng sì shí nián 。

Bấy giờ, dân đó xin một vì vua, nên Đức Chúa Trời ban Sau-lơ, con của Ki-sơ, về chi phái Bên-gia-min, trị họ trong bốn mươi năm;

:『西。』

jì fèi le sǎo luó , jiù xuǎn lì dà wèi zuò tā men de wáng , yòu wèi tā zuò jiàn zhèng shuō :『 wǒ xún dé yē xī de ér zǐ dà wèi , tā shì hé wǒ xīn yì de rén , fán shì yào zūn xíng wǒ de zhǐ yì 。』

đoạn, Ngài bỏ vua đó, lại lập Đa-vít làm vua, mà làm chứng về người rằng: Ta đã tìm thấy Đa-vít con của Gie-sê, là người vừa lòng ta, người sẽ tuân theo mọi ý chỉ ta.

cóng zhè rén de hòu yì zhōng , shén yǐ jīng zhào zhe suǒ yīng xǔ de , wèi yǐ sè liè rén lì le yí wèi jiù zhǔ , jiù shì yē sū 。

Theo lời hứa, Đức Chúa Trời bèn bởi dòng dõi người mà dấy lên cho dân Y-sơ-ra-ên một Cứu Chúa, tức là Đức Chúa Jêsus.

zài tā méi yǒu chū lái yǐ xiān , yuē hàn xiàng yǐ sè liè zhòng mín xuān jiǎng huǐ gǎi de xǐ lǐ 。

Trước khi Đức Chúa Jêsus chưa đến, Giăng đã giảng dạy phép báp-tem về sự ăn năn cho cả dân Y-sơ-ra-ên.

:『。』

yuē hàn jiāng xíng jìn tā de chéng tú shuō :『 nǐ men yǐ wéi wǒ shì shuí ? wǒ bú shì jī dū ; zhǐ shì yǒu yí wèi zài wǒ yǐ hòu lái de , wǒ jiě tā jiǎo shàng de xié dài yě shì bú pèi de 。』

Giăng đang lo làm trọn công việc mình, thì nói rằng: Ta chẳng phải là Đấng mà các ngươi tưởng; nhưng có Đấng đến sau ta, ta chẳng xứng đáng mở dây giày Ngài.

「 dì xiong men , yà bó lā hǎn de zǐ sūn hé nǐ men zhōng jiān jìng wèi shén de rén nǎ , zhè jiù shì de dào shì chuán gěi wǒ men de 。

Hỡi anh em, là con cháu dòng Aùp-ra-ham, và kẻ kính sợ Đức Chúa Trời, lời rao truyền sự cứu chuộc nầy đã phán cho chúng ta vậy.

yē lù sā lěng jū zhù de rén hé tā men de guān zhǎng , yīn wèi bú rèn shi jī dū , yě bù míng bái měi ān xī rì suǒ dú zhòng xiān zhī de shū , jiù bǎ jī dū dìng le sǐ zuì , zhèng yìng le xiān zhī de yù yán ;

Vì dân và các quan ở thành Giê-ru-sa-lem chẳng nhìn biết Đức Chúa Jêsus nầy, nên lúc xử tội Ngài, chúng đã ứng nghiệm lời của các đấng tiên tri mà người ta thường đọc trong mỗi ngày Sa-bát.

suī rán chá bù chū tā yǒu dāng sǐ de zuì lái , hái shì qiú bǐ lā duō shā tā ;

Dầu trong Ngài chẳng tìm thấy cớ gì đáng chết, họ cứ xin Phi-lát giết Ngài đi.

jì chéng jiù le jīng shàng zhǐ zhe tā suǒ jì de yí qiè huà , jiù bǎ tā cóng mù tou shàng qǔ xià lái , fàng zài fén mù lǐ 。

Họ đã làm cho ứng nghiệm mọi điều chép về Ngài rồi, thì hạ Ngài xuống khỏi thập tự giá mà chôn trong mả.

shén què jiào tā cóng sǐ lǐ fù huó 。

Song Đức Chúa Trời đã làm cho Ngài từ kẻ chết sống lại.

nà cóng jiā lì lì tóng tā shàng yē lù sā lěng de rén duō rì kàn jiàn tā , zhè xiē rén rú jīn zài mín jiān shì tā de jiàn zhèng 。

Những kẻ theo Ngài từ xứ Ga-li-lê lên thành Giê-ru-sa-lem đã được thấy Ngài lâu ngày, và hiện nay đều làm chứng về Ngài giữa dân chúng.

wǒ men yě bào hǎo xìn xī gěi nǐ men , jiù shì nà yīng xǔ zǔ zōng de huà ,

Còn chúng tôi, thì rao truyền cho các anh em tin lành nầy về lời hứa ban cho tổ phụ chúng ta,

shén yǐ jīng xiàng wǒ men zhè zuò ér nǚ de yìng yàn , jiào yē sū fù huó le 。 zhèng rú shī piān dì èr piān shàng jì zhe shuō : nǐ shì wǒ de ér zi , wǒ jīn rì shēng nǐ 。

rằng Đức Chúa Trời bởi khiến Đức Chúa Jêsus sống lại thì đã làm ứng nghiệm lời hứa đó cho chúng ta là con cháu của tổ phụ, y như đã chép trong sách Thi thiên đoạn thứ hai rằng: Con là Con trai ta, ngày nay ta đã sanh Con.

lùn dào shén jiào tā cóng sǐ lǐ fù huó , bú zài guī yú xiǔ huài , jiù zhè yàng shuō : wǒ bì jiāng suǒ yīng xǔ dà wèi nà shèng jié 、 kě kào de ēn diǎn cì gěi nǐ men 。

Ngài đã làm cho Đức Chúa Jêsus sống lại, đặng nay khỏi trở về sự hư nát nữa, ấy về điều đó mà Ngài đã phán rằng: Ta sẽ thành tín giữ cùng các ngươi lời hứa thánh đã phán với Đa-vít.

yòu yǒu yì piān shàng shuō : nǐ bì bú jiào nǐ de shèng zhě jiàn xiǔ huài 。

Lại trong câu khác, cũng có phán rằng: Chúa chẳng cho Đấng Thánh Ngài thấy sự hư nát đâu.

「 dà wèi zài shì de shí hòu zūn xíng le shén de zhǐ yì , jiù shuì le , guī dào tā zǔ zōng nà lǐ , yǐ jiàn xiǔ huài ;

Vả, vua Đa-vít lúc còn sống, làm theo ý chỉ Đức Chúa Trời, đoạn qua đời; người đã được trở về cùng các tổ phụ mình, và đã thấy sự hư nát;

wéi dú shén suǒ fù huó de , tā bìng wèi jiàn xiǔ huài 。

nhưng Đấng mà Đức Chúa Trời đã khiến sống lại, chẳng có thấy sự hư nát đâu.

suǒ yǐ , dì xiong men , nǐ men dāng xiǎo de : shè zuì de dào shì yóu zhè rén chuán gěi nǐ men de 。

Vậy, hỡi anh em, khá biết rằng nhờ Đấng đó mà sự tha tội được rao truyền cho anh em;

西

nǐ men kào mó xī de lǜ fǎ , zài yí qiè bù dé chēng yì de shì shàng xìn kào zhè rén , jiù dōu dé chēng yì le 。

lại nhờ Ngài mà hễ ai tin thì được xưng công bình về mọi điều theo luật pháp Môi-se chẳng có thể được xưng công bình.

suǒ yǐ , nǐ men wù yào xiǎo xīn , miǎn de xiān zhī shū shàng suǒ shuō de lín dào nǐ men 。

Nên, hãy giữ lấy cho khỏi mắc đều đã chép trong sách tiên tri rằng:

。」

zhǔ shuō : nǐ men zhè qīng màn de rén yào guān kàn , yào jīng qí , yào miè wáng ; yīn wèi zài nǐ men de shí hòu , wǒ xíng yí jiàn shì , suī yǒu rén gào sù nǐ men , nǐ men zǒng shì bú xìn 。」

Hỡi kẻ hay khinh dể kia, khá xem xét, sợ hãi và biến mất đi; Vì trong đời các ngươi, ta sẽ làm một việc, Nếu có ai thuật lại cho, các ngươi cũng chẳng tin.

tā men chū huì táng de shí hòu , zhòng rén qǐng tā men dào xià ān xī rì zài jiǎng zhè huà gěi tā men tīng 。

Khi hai người bước ra, chúng xin đến ngày Sa-bát sau cũng giảng luận các lời đó.

sàn huì yǐ hòu , yóu tài rén hé jìng qián jìn yóu tài jiào de rén duō yǒu gēn cóng bǎo luó 、 bā ná bā de 。 èr rén duì tā men jiǎng dào , quàn tā men wù yào héng jiǔ zài shén de ēn zhōng 。

Lúc hội đã tan, có nhiều người Giu-đa và người mới theo đạo Giu-đa, đi theo Phao-lô và Ba-na-ba, hai người nói chuyện với họ và khuyên cứ vững lòng theo ơn Đức Chúa Trời.

dào xià ān xī rì , hé chéng de rén jī hū dōu lái jù jí , yào tīng shén de dào 。

Ngày Sa-bát sau, gần hết cả thành đều nhóm lại để nghe đạo Chúa.

dàn yóu tài rén kàn jiàn rén zhè yàng duō , jiù mǎn xīn jí dù , yìng bó bǎo luó suǒ shuō de huà , bìng qiě huǐ bàng 。

Song những người Giu-đa thấy đoàn dân đó thì đầy lòng ghen ghét, nghịch cùng lời Phao-lô nói và mắng nhiếc người.

:「

bǎo luó hé bā ná bā fàng dǎn shuō :「 shén de dào xiān jiǎng gěi nǐ men yuán shì yīng dāng de ; zhī yīn nǐ men qì jué zhè dào , duàn dìng zì jǐ bú pèi dé yǒng shēng , wǒ men jiù zhuǎn xiàng wài bāng rén qù 。

Phao-lô và Ba-na-ba bèn nói cùng họ cách dạn dĩ rằng: Aáy cần phải truyền đạo Đức Chúa Trời trước nhất cho các ngươi; nhưng vì các ngươi đã từ chối, và tự xét mình không xứng đáng nhận sự sống đời đời, nên đây nầy, chúng ta mới xây qua người ngoại.

。」

yīn wéi zhǔ céng zhè yàng fēn fù wǒ men shuō : wǒ yǐ jīng lì nǐ zuò wài bāng rén de guāng , jiào nǐ shī xíng jiù ēn , zhí dào dì jí 。」

Vì Chúa có phán dặn chúng ta như vầy: Ta lập ngươi lên đặng làm sự sáng cho các dân, Hầu cho ngươi đem sự cứu-rỗi cho đến cùng cõi đất.

wài bāng rén tīng jiàn zhè huà , jiù huān xǐ le , zàn měi shén de dào ; fán yù dìng dé yǒng shēng de rén dōu xìn le 。

Những người ngoại nghe lời đó thì vui mừng, ngợi khen đạo Chúa, và phàm những kẻ đã được định sẵn cho sự sống đời đời, đều tin theo.

yú shì zhǔ de dào chuán biàn le nà yí dài dì fāng 。

Đạo Chúa tràn ra khắp trong xứ đó.

dàn yóu tài rén tiǎo suō qián jìng 、 zūn guì de fù nǚ hé chéng nèi yǒu míng wàng de rén , bī pò bǎo luó 、 bā ná bā , jiāng tā men gǎn chū jìng wài 。

Nhưng các người Giu-đa xui giục những đàn bà sang trọng sốt sắng và dân đàn anh trong thành; gây sự bắt bớ Phao-lô và Ba-na-ba, mà đuổi ra khỏi phần đất mình.

èr rén duì zhe zhòng rén duò xià jiǎo shàng de chén tǔ , jiù wǎng yǐ gē niàn qù le 。

Hai người đối cùng họ phủi bụi nơi chân mình, rồi đi đến thành Y-cô-ni.

mén tú mǎn xīn xǐ lè , yòu bèi shèng líng chōng mǎn 。

Còn các môn đồ thì được đầy dẫy sự vui vẻ và Đức Thánh Linh vậy.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.