中文圣经

CÔNG VỤ 14

đã biết 0/272

èr rén zài yǐ gē niàn tóng jìn yóu tài rén de huì táng , zài nà lǐ jiǎng de , jiào yóu tài rén hé xī là rén xìn de hěn duō 。

Tại thành Y-cô-ni, Phao-lô và Ba-na-ba cùng vào nhà hội của người Giu-đa, và giảng một cách đến nỗi có rất nhiều người Giu-đa và người Gờ-réc tin theo.

dàn nà bú shùn cóng de yóu tài rén sǒng dòng wài bāng rén , jiào tā men xīn lǐ nǎo hèn dì xiong 。

Song những người Giu-đa chưa chịu tin thì xui giục và khêu chọc lòng người ngoại nghịch cùng anh em.

èr rén zài nà lǐ zhù le duō rì , yǐ kào zhǔ fàng dǎn jiǎng dào , zhǔ jiè tā men de shǒu shī xíng shén jì qí shì , zhèng míng tā de ēn dào 。

Dầu vậy, Phao-lô và Ba-na-ba ở lại đó cũng khá lâu, đầy dẫy sự bạo dạn và đức tin trong Chúa, và Chúa dùng tay của hai sứ đồ làm những phép lạ dấu kỳ, mà chứng về đạo ân điển của Ngài.

使

chéng lǐ de zhòng rén jiù fēn le dǎng , yǒu fù cóng yóu tài rén de , yǒu fù cóng shǐ tú de 。

Nhưng dân chúng trong thành chia phe ra: kẻ thì theo bên Giu-đa, người thì theo bên hai sứ đồ.

使

nà shí , wài bāng rén hé yóu tài rén , bìng tā men de guān zhǎng , yì qí yōng shàng lái , yào líng rǔ shǐ tú , yòng shí tou dǎ tā men 。

Lại khi những người ngoại và người Giu-đa cùng các quan mình nổi lên đặng hà hiếp và ném đá hai sứ đồ,

使

shǐ tú zhī dào le , jiù táo wǎng lǚ gāo ní de lù sī dé 、 tè bì liǎng gè chéng hé zhōu wéi dì fāng qù ,

thì hai sứ đồ đã biết trước, bèn trốn tránh trong các thành xứ Ly-cao-ni, là thành Lít-trơ, thành Đẹt-bơ, và miền chung quanh đó,

zài nà lǐ chuán fú yīn 。

mà giảng Tin Lành.

lù sī dé chéng lǐ zuò zhe yí gè liǎng jiǎo wú lì de rén , shēng lái shì qué tuǐ de , cóng lái méi yǒu zǒu guò 。

Nơi thành Lít-trơ có một người liệt chân, què từ lúc mới sanh ra, chẳng hề đi được.

tā tīng bǎo luó jiǎng dào , bǎo luó dìng jīng kàn tā , jiàn tā yǒu xìn xīn , kě dé quán yù ,

Người ngồi và nghe Phao-lô giảng. Phao-lô chăm mắt trên người, thấy có đức tin để chữa lành được,

:「!」

jiù dà shēng shuō :「 nǐ qǐ lái , liǎng jiǎo zhàn zhí !」 nà rén jiù tiào qǐ lái , ér qiě xíng zǒu 。

bèn nói lớn tiếng rằng: Ngươi hãy chờ dậy, đứng thẳng chân lên. Người nhảy một cái, rồi đi.

:「。」

zhòng rén kàn jiàn bǎo luó suǒ zuò de shì , jiù yòng lǚ gāo ní de huà dà shēng shuō :「 yǒu shén jiè zhe rén xíng jiàng lín zài wǒ men zhōng jiān le 。」

Dân chúng thấy sự Phao-lô đã làm, thì kêu lên bằng tiếng Li-cao-ni rằng: Các thần đã lấy hình loài người mà xuống cùng chúng ta.

yú shì chēng bā ná bā wèi zhòu sī , chēng bǎo luó wèi xī ěr mǐ , yīn wèi tā shuō huà lǐng shǒu 。

Chúng bèn xưng Ba-na-ba là thần Giu-bi-tê, còn Phao-lô là thần Mẹt-cu-rơ, vì là người đứng đầu giảng đạo.

使

yǒu chéng wài zhòu sī miào de jì sī qiān zhe niú , ná zhe huā quān , lái dào mén qián , yào tóng zhòng rén xiàng shǐ tú xiàn jì 。

Thầy cả của thần Giu-bi-tê có miếu nơi cửa thành, đem bò đực và tràng hoa đến trước cửa, muốn đồng lòng với đoàn dân dâng một tế lễ.

使

bā ná bā 、 bǎo luó èr shǐ tú tīng jiàn , jiù sī kāi yī shang , tiào jìn zhòng rén zhōng jiān , hǎn zhe shuō :

Nhưng hai sứ đồ là Ba-na-ba và Phao-lô hay điều đó, bèn xé áo mình, sấn vào giữa đám đông, mà kêu lên rằng:

「 zhū jūn , wèi shén me zuò zhè shì ne ? wǒ men yě shì rén , xìng qíng hé nǐ men yí yàng 。 wǒ men chuán fú yīn gěi nǐ men , shì jiào nǐ men lí qì zhè xiē xū wàng , guī xiàng nà chuàng zào tiān 、 dì 、 hǎi , hé qí zhōng wàn wù de yǒng shēng shén 。

Hỡi các bạn, sao làm điều đó? Chúng ta chỉ là loài người giống như các ngươi; chúng ta giảng Tin Lành cho các ngươi, hầu cho xây bỏ các thần hư không kia, mà trở về cùng Đức Chúa Trời hằng sống, là Đấng đã dựng nên trời, đất, biển, và muôn vật trong đó.

tā zài cóng qián de shì dài , rèn píng wàn guó gè háng qí dào ;

Trong các đời trước đây, Ngài để cho mọi dân theo đường riêng mình,

。」

rán ér wèi zì jǐ wèi cháng bù xiǎn chū zhèng jù lái , jiù rú cháng shī ēn huì , cóng tiān jiàng yǔ , shǎng cì fēng nián , jiào nǐ men yǐn shí bǎo zú , mǎn xīn xǐ lè 。」

dầu vậy, Ngài cứ làm chứng luôn về mình, tức là giáng phước cho, làm mưa từ trời xuống, ban cho các ngươi mùa màng nhiều hoa quả, đồ ăn dư dật, và lòng đầy vui mừng.

èr rén shuō le zhè xiē huà , jǐn jǐn dì lán zhù zhòng rén bú xiàn jì yǔ tā men 。

Tuy sứ đồ nói như vậy, chỉ vừa đủ ngăn trở dân chúng dâng cho mình một tế lễ.

便

dàn yǒu xiē yóu tài rén cóng ān tí ā hé yǐ gē niàn lái , tiǎo suō zhòng rén , jiù yòng shí tou dǎ bǎo luó , yǐ wéi tā shì sǐ le , biàn tuō dào chéng wài 。

Bấy giờ có mấy người Giu-đa từ thành An-ti-ốt và thành Y-cô-ni đến dỗ dành dân chúng; chúng ném đá Phao-lô, tưởng người đã chết, nên kéo ra ngoài thành.

mén tú zhèng wéi zhe tā , tā jiù qǐ lái , zǒu jìn chéng qù 。 huí dào xù lì yà de ān tí ā dì èr tiān , tóng bā ná bā wǎng tè bì qù ,

Nhưng các môn đồ đang nhóm chung quanh người, thì người vùng đứng dậy và vào trong thành. Bữa sau, người đi với Ba-na-ba đến thành Đẹt-bơ.

使

duì nà chéng lǐ de rén chuán le fú yīn , shǐ hǎo xiē rén zuò mén tú , jiù huí lù sī dé 、 yǐ gē niàn 、 ān tí ā qù ,

Khi hai sứ đồ đã rao truyền Tin Lành trong thành đó, và làm cho khá nhiều người trở nên môn đồ, thì trở về thành Lít-trơ, thành Y-cô-ni và thành An-ti-ốt,

:「 。」

jiān gù mén tú de xīn , quàn tā men héng shǒu suǒ xìn de dào ; yòu shuō :「 wǒ men jìn rù shén de guó , bì xū jīng lì xǔ duō jiān nán 。」

giục các môn đồ vững lòng, khuyên phải bền đỗ trong đức tin, và bảo trước rằng phải trải qua nhiều nỗi khó khăn mới vào được nước Đức Chúa Trời.

èr rén zài gè jiào huì zhōng xuǎn lì le zhǎng lǎo , yòu jìn shí dǎo gào , jiù bǎ tā men jiāo tuō suǒ xìn de zhǔ 。

Khi hai sứ đồ khiến lựa chọn những trưởng lão trong mỗi Hội thánh, cầu nguyện và kiêng ăn xong, thì dâng các người đó cho Chúa là Đấng mình đã tin đến.

西

èr rén jīng guò bǐ xī dǐ , lái dào páng fēi lì yà 。

Kế đó, hai sứ đồ vượt qua đất Bi-si-đi, đến trong xứ Bam-phi-ly.

zài bié jiā jiǎng le dào , jiù xià yà dà lì qù ,

Sau khi đã truyền đạo tại thành Bẹt-giê rồi, thì xuống thành Aùt-ta-li.

cóng nà lǐ zuò chuán , wǎng ān tí ā qù 。 dāng chū , tā men bèi zhòng rén suǒ tuō 、 méng shén zhī ēn 、 yào bàn xiàn zài suǒ zuò zhī gōng , jiù shì zài zhè dì fāng 。

Từ nơi đó, hai người chạy buồm về thành An-ti-ốt, là chỗ mình đã ra đi, được giao phó cho ân điển Đức Chúa Trời, để làm công việc mình vừa mới làm xong.

dào le nà lǐ , jù jí le huì zhòng , jiù shù shuō shén jiè tā men suǒ xíng de yí qiè shì , bìng shén zěn yàng wèi wài bāng rén kāi le xìn dào de mén 。

Hai người đến nơi, nhóm họp Hội thánh rồi, bèn thuật lại mọi việc Đức Chúa Trời đã cậy mình làm, và Ngài mở cửa đức tin cho người ngoại là thể nào.

èr rén jiù zài nà lǐ tóng mén tú zhù le duō rì 。

Hai người ở tại đó lâu ngày với các môn đồ.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.