中文圣经

CÔNG VỤ 16

đã biết 0/353

bǎo luó lái dào tè bì , yòu dào lù sī dé 。 zài nà lǐ yǒu yí gè mén tú , míng jiào tí mó tài , shì xìn zhǔ zhī yóu tài fù rén de ér zi , tā fù qīn què shì xī là rén 。

Phao-lô tới thành Đẹt-bơ và thành Lít-trơ. Nơi đó, có một môn đồ tên là Ti-mô-thê, con của một người đàn bà Giu-đa đã tin, còn cha thì người Gờ-réc.

lù sī dé hé yǐ gē niàn de dì xiong dōu chēng zàn tā 。

Anh em ở thành Lít-trơ và thành Y-cô-ni đều làm chứng tốt về người.

bǎo luó yào dài tā tóng qù , zhī yīn nà xiē dì fāng de yóu tài rén dōu zhī dào tā fù qīn shì xī là rén , jiù gěi tā xíng le gē lǐ 。

Phao-lô muốn đem người theo; bởi cớ những người Giu-đa ở trong các nơi đó, nên Phao-lô lấy người và làm phép cắt bì cho, vì hết thảy đều biết cha Ti-mô-thê là người Gờ-réc.

使

tā men jīng guò gè chéng , bǎ yē lù sā lěng shǐ tú hé zhǎng lǎo suǒ dìng de tiáo guī jiāo gěi mén tú zūn shǒu 。

Hễ ghé qua thành nào, hai người cũng dặn biểu phải giữ mấy lề luật mà sứ đồ và trưởng lão tại thành Giê-ru-sa-lem lập ra.

yú shì zhòng jiào huì xìn xīn yuè fā jiān gù , rén shù tiān tiān jiā zēng 。

Aáy vậy, các Hội thánh được vững vàng trong đức tin, và số người càng ngày càng thêm lên.

shèng líng jì rán jìn zhǐ tā men zài yà xì yà jiǎng dào , tā men jiù jīng guò fú lǚ jiā 、 jiā lā tài yí dài dì fāng 。

Đoạn, trải qua xứ Phi-ri-gi và đất Ga-la-ti, vì Đức Thánh Linh đã cấm truyền đạo trong cõi A-si.

西

dào le měi xī yà de biān jiè , tā men xiǎng yào wǎng bì tuī ní qù , yē sū de líng què bù xǔ 。

Tới gần xứ My-si rồi, hai người sắm sửa vào xứ Bi-thi-ni; nhưng Thánh Linh của Đức Chúa Jêsus không cho phép,

西

tā men jiù yuè guò měi xī yà , xià dào tè luó yà qù 。

bèn kíp qua khỏi xứ My-si, và xuống thành Trô-ách.

:「。」

zài yè jiān yǒu yì xiàng xiàn yǔ bǎo luó 。 yǒu yí gè mǎ qí dùn rén zhàn zhe qiú tā shuō :「 qǐng nǐ guò dào mǎ qí dùn lái bāng zhù wǒ men 。」

Đang ban đêm, Phao-lô thấy sự hiện thấy; có một người Ma-xê-đoan đứng trước mặt mình, nài xin rằng: Hãy qua xứ Ma-xê-đoan mà cứu giúp chúng tôi.

bǎo luó jì kàn jiàn zhè yì xiàng , wǒ men suí jí xiǎng yào wǎng mǎ qí dùn qù , yǐ wéi shén zhào wǒ men chuán fú yīn gěi nà lǐ de rén tīng 。

Phao-lô vừa thấy sự hiện thấy đó rồi, chúng ta liền tìm cách qua xứ Ma-xê-đoan, vì đã định rằng Đức Chúa Trời gọi chúng ta rao truyền Tin Lành ở đó.

yú shì cóng tè luó yà kāi chuán , yì zhí xíng dào sā mó tè lā , dì èr tiān dào le ní yà pō lǐ 。

Vậy, chúng ta từ thành Trô-ách đi thuyền thẳng đến đảo Sa-mô-tra-xơ; bữa sau, đến thành Nê-a-bô-li;

cóng nà lǐ lái dào féi lì bǐ , jiù shì mǎ qí dùn zhè yì fāng de tóu yí gè chéng , yě shì luó mǎ de zhù fáng chéng 。 wǒ men zài zhè chéng lǐ zhù le jǐ tiān 。

từ nơi đó, chúng ta tới thành Phi-líp, là thành thứ nhất của tỉnh Ma-xê-đoan, và là thuộc địa nước Rô-ma. Chúng ta ở tạm đó vài ngày.

dāng ān xī rì , wǒ men chū chéng mén , dào le hé biān , zhī dào nà lǐ yǒu yí gè dǎo gào de dì fāng , wǒ men jiù zuò xià duì nà jù huì de fù nǚ jiǎng dào 。

Đến ngày Sa-bát, chúng ta ra ngoài cửa thành, đến gần bên sông, là nơi chúng ta tưởng rằng người ta nhóm lại đặng cầu nguyện; chúng ta ngồi xong, giảng cho những đàn bà đã nhóm lại.

yǒu yí gè mài zǐ sè bù pǐ de fù rén , míng jiào lǚ dǐ yà , shì tuī yǎ tuī lā chéng de rén , sù lái jìng bài shén 。 tā tīng jiàn le , zhǔ jiù kāi dǎo tā de xīn , jiào tā liú xīn tīng bǎo luó suǒ jiǎng de huà 。

Có một người trong bọn đó nghe chúng ta, tên là Ly-đi, quê ở thành Thi-a-ti-rơ, làm nghề buôn hàng sắc tía, vẫn kính sợ Đức Chúa Trời. Chúa mở lòng cho người, đặng chăm chỉ nghe lời Phao-lô nói.

便:「」;

tā hé tā yì jiā jì lǐng le xǐ , biàn qiú wǒ men shuō :「 nǐ men ruò yǐ wèi wǒ shì zhēn xìn zhǔ de , qǐng dào wǒ jiā lǐ lái zhù 」; yú shì qiáng liú wǒ men 。

Khi người đã chịu phép báp-tem với người nhà mình rồi, thì xin chúng ta rằng: Nếu các ông đã đoán tôi là trung thành với Chúa, thì hãy vào nhà tôi, mà ở lại đó; rồi người ép mời vào.

使

hòu lái , wǒ men wǎng nà dǎo gào de dì fāng qù 。 yǒu yí gè shǐ nǚ yíng zhe miàn lái , tā bèi wū guǐ suǒ fù , yòng fǎ shù , jiào tā zhǔ rén men dà dé cái lì 。

Một ngày kia, chúng ta đi cầu nguyện, gặp một đứa đầy tớ gái bị quỉ Phi-tôn ám vào, hay bói khoa, làm lợi lớn cho chủ nó.

:「 。」

tā gēn suí bǎo luó hé wǒ men , hǎn zhe shuō :「 zhè xiē rén shì zhì gāo shén de pú rén , duì nǐ men chuán shuō jiù rén de dào 。」

Nó theo Phao-lô và chúng ta, mà kêu la rằng: Những người đó là đầy tớ của Đức Chúa Trời Rất Cao, rao truyền cho các ngươi đạo cứu rỗi.

:「!」

tā yì lián duō rì zhè yàng hǎn jiào , bǎo luó jiù xīn zhōng yàn fán , zhuǎn shēn duì nà guǐ shuō :「 wǒ fèng yē sū jī dū de míng , fēn fù nǐ cóng tā shēn shàng chū lái !」 nà guǐ dāng shí jiù chū lái le 。

Trong nhiều ngày nó cứ làm vậy, nhưng Phao-lô lấy làm cực lòng, xây lại nói cùng quỉ rằng: Ta nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ mà truyền mầy ra khỏi người đàn bà nầy. Chính giờ đó, quỉ liền ra khỏi.

使便西

shǐ nǚ de zhǔ rén men jiàn dé lì de zhǐ wàng méi yǒu le , biàn jiū zhù bǎo luó hé xī lā , lā tā men dào shì shàng qù jiàn shǒu lǐng ;

Song le các chủ nàng thấy mình chẳng còn trông được lợi lộc nữa, bèn bắt Phao-lô và Si-la, kéo đến nơi công sở, trước mặt các quan,

:「

yòu dài dào guān zhǎng miàn qián shuō :「 zhè xiē rén yuán shì yóu tài rén , jìng sāo rǎo wǒ men de chéng ,

rồi điệu đến các thượng quan, mà thưa rằng: Những người nầy làm rối loạn thành ta; ấy là người Giu-đa,

。」

chuán wǒ men luó mǎ rén suǒ bù kě shòu bù kě xíng de guī jǔ 。」

dạy dỗ các thói tục mà chúng ta chẳng nên nhận lấy, hoặc vâng theo, vì chúng ta là người Rô-ma.

zhòng rén jiù yì tóng qǐ lái gōng jī tā men 。 guān zhǎng fēn fù bāo le tā men de yī shang , yòng gùn dǎ ;

Đoàn dân cũng nổi lên nghịch cùng hai người, và khi các thượng quan khiến xé áo hai người ra rồi, bèn truyền đánh đòn.

便

dǎ le xǔ duō gùn , biàn jiāng tā men xià zài jiān lǐ , zhǔ fù jìn zú yán jǐn kān shǒu 。

Sau khi người ta đánh nhiều đòn rồi, thì bỏ vào ngục, dặn người đề lao phải canh giờ cho nghiêm nhặt.

jìn zú lǐng le zhè yàng de mìng , jiù bǎ tā men xià zài nèi jiān lǐ , liǎng jiǎo shàng le mù gǒu 。

Được lịnh đó, đề lao bỏ hai người vào ngục tối và tra chân vào cùm.

西

yuē zài bàn yè , bǎo luó hé xī lā dǎo gào , chàng shī zàn měi shén , zhòng qiú fàn yě cè ěr ér tīng 。

Lối nửa đêm, Phao-lô và Si-la đang cầu nguyện, hát ngợi khen Đức Chúa Trời; và những tù phạm đều nghe.

hū rán , dì dà zhèn dòng , shèn zhì jiān láo de dì jī dōu yáo dòng le , jiān mén lì kè quán kāi , zhòng qiú fàn de suǒ liàn yě dōu sōng kāi le 。

Thình lình, có cơn động đất rất lớn, đến nỗi nền ngục rúng động; cùng một lúc, các cửa mở ra, xiềng tù phạm thảy đều tháo cả.

jìn zú yì xǐng , kàn jiàn jiān mén quán kāi , yǐ wéi qiú fàn yǐ jīng táo zǒu , jiù bá dāo yào zì shā 。

Người đề lao giựt mình thức dậy, thấy các cửa ngục đều mở, tưởng tù đã trốn hết, bèn rút gươm, toan giết mình.

:「。」

bǎo luó dà shēng hū jiào shuō :「 bú yào shāng hài zì jǐ ! wǒ men dōu zài zhè lǐ 。」

Nhưng Phao-lô kêu người lớn tiếng rằng: Chớ làm hại mình: Chúng ta đều còn cả đây.

西

jìn zú jiào rén ná dēng lái , jiù tiào jìn qù , zhàn zhàn jīng jīng dì fǔ fú zài bǎo luó 、 xī lā miàn qián ;

Người đề lao bèn kêu lấy đèn, chạy lại, run sợ lắm, gieo mình nơi chân Phao-lô và Si-la.

:「?」

yòu lǐng tā men chū lái , shuō :「 èr wèi xiān shēng , wǒ dāng zěn yàng xíng cái kě yǐ dé jiù ?」

Đoạn, đưa hai người ra ngoài, mà hỏi rằng: Các chúa ơi, tôi phải làm chi cho được cứu rỗi?

:「。」

tā men shuō :「 dāng xìn zhǔ yē sū , nǐ hé nǐ yì jiā dōu bì dé jiù 。」

Hai người trả lời rằng: Hãy tin Đức Chúa Jêsus, thì ngươi và cả nhà đều sẽ được cứu rỗi.

tā men jiù bǎ zhǔ de dào jiǎng gěi tā hé tā quán jiā de rén tīng 。

Hai người truyền đạo Đức Chúa Trời cho người, và cho những kẻ ở nhà người nữa.

dāng yè , jiù zài nà shí hòu , jìn zú bǎ tā men dài qù , xǐ tā men de shāng ; tā hé shǔ hū tā de rén lì shí dōu shòu le xǐ 。

Trong ban đêm, chính giờ đó, người đề lao đem hai người ra rửa các thương tích cho; rồi tức thì người và mọi kẻ thuộc về mình đều chịu phép báp-tem.

yú shì jìn zú lǐng tā men shàng zì jǐ jiā lǐ qù , gěi tā men bǎi shàng fàn 。 tā hé quán jiā , yīn wèi xìn le shén , dōu hěn xǐ lè 。

Đoạn, người đề lao mời hai người lên nhà mình, đặt bàn, và người với cả nhà mình đều mừng rỡ vì đã tin Đức Chúa Trời.

:「。」

dào le tiān liàng , guān zhǎng dǎ fā chāi yì lái , shuō :「 shì fàng nà liǎng gè rén ba 。」

Đến sáng, thượng quan sai lính nói cùng người đề lao rằng: Hãy thả các người ấy đi.

:「。」

jìn zú jiù bǎ zhè huà gào sù bǎo luó shuō :「 guān zhǎng dǎ fā rén lái jiào shì fàng nǐ men , rú jīn kě yǐ chū jiān , píng píng ān ān dì qù ba 。」

Người trình lời đó cùng Phao-lô rằng: Các thượng quan đã khiến truyền cho tôi thả các ông; vậy, hãy ra, và xin đi cho bình yên.

:「!」

bǎo luó què shuō :「 wǒ men shì luó mǎ rén , bìng méi yǒu dìng zuì , tā men jiù zài zhòng rén miàn qián dǎ le wǒ men , yòu bǎ wǒ men xià zài jiān lǐ , xiàn zài yào sī xià niǎn wǒ men chū qù ma ? zhè shì bù xíng de 。 jiào tā men zì jǐ lái lǐng wǒ men chū qù ba !」

Nhưng Phao-lô nói cùng lính rằng: Chúng ta vốn là quốc dân Rô-ma, khi chưa định tội, họ đã đánh đòn chúng ta giữa thiên hạ, rồi bỏ vào ngục; nay họ lại thả lén chúng ta ư! Điều đó không được. Chính các quan phải tới đây mà thả chúng ta mới phải!

chāi yì bǎ zhè huà huí bǐng guān zhǎng 。 guān zhǎng tīng jiàn tā men shì luó mǎ rén , jiù hài pà le ,

Các thượng quan nghe lính trình lại bấy nhiêu lời, biết hai người đó là người Rô-ma, thì sợ hãi.

yú shì lái quàn tā men , lǐng tā men chū lái , qǐng tā men lí kāi nà chéng 。

Họ bèn đến nói với hai người, thả đi, và xin lìa khỏi thành.

èr rén chū le jiān , wǎng lǚ dǐ yà jiā lǐ qù , jiàn le dì xiong men , quàn wèi tā men yì fān , jiù zǒu le 。

Khi ra ngục rồi, hai sứ đồ vào nhà Ly-đi, thăm và khuyên bảo anh em, rồi đi.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.