中文圣经

CÔNG VỤ 7

đã biết 0/468

:「?」

dà jì sī jiù shuō :「 zhè xiē shì guǒ rán yǒu ma ?」

Thầy cả thượng phẩm bèn hỏi Ê-tiên rằng: Có phải thật như vậy chăng?

:「耀

sī tí fǎn shuō :「 zhū wèi fù xiōng qǐng tīng ! dāng rì wǒ men de zǔ zōng yà bó lā hǎn zài měi suǒ bù dá mǐ yà hái wèi zhù hā lán de shí hòu , róng yào de shén xiàng tā xiǎn xiàn ,

Ê-tiên trả lời rằng: Hỡi các anh, các cha, xin nghe lời tôi! Đức Chúa Trời vinh hiển đã hiện ra cùng tổ chúng ta là Aùp-ra-ham, khi người còn ở tại Mê-sô-bô-ta-mi, chưa đến ở tại Cha-ran,

:『。』

duì tā shuō :『 nǐ yào lí kāi běn dì hé qīn zú , wǎng wǒ suǒ yào zhǐ shì nǐ de dì fāng qù 。』

mà phán rằng: Hãy ra khỏi quê hương và bà con ngươi, mà đi đến xứ ta sẽ chỉ cho.

使

tā jiù lí kāi jiā lè dǐ rén zhī dì , zhù zài hā lán 。 tā fù qīn sǐ le yǐ hòu , shén shǐ tā cóng nà lǐ bān dào nǐ men xiàn zài suǒ zhù zhī dì 。

Bấy giờ người ra khỏi xứ Canh-đê, rồi đến thành Cha-ran. Từ đó, lúc cha người qua đời rồi, Đức Chúa Trời khiến người từ nơi đó qua xứ các ông hiện đang ở;

zài zhè dì fāng , shén bìng méi yǒu gěi tā chǎn yè , lián lì zú zhī dì yě méi yǒu gěi tā ; dàn yìng xǔ yào jiāng zhè dì cì gěi tā hé tā de hòu yì wèi yè ; nà shí tā hái méi yǒu ér zi 。

Ngài chẳng ban cho người sản nghiệp gì trong xứ nầy, dầu một thẻo đất lọt bàn chân cũng không, nhưng Ngài hứa ban xứ nầy làm kỷ vật cho người và dòng dõi người nữa, dẫu bấy giờ người chưa có con cái mặc lòng.

:『。』

shén shuō :『 tā de hòu yì bì jì jū wài bāng , nà lǐ de rén yào jiào tā men zuò nú pú , kǔ dài tā men sì bǎi nián 。』

Đức Chúa Trời phán như vầy: Dòng dõi ngươi sẽ ở ngụ nơi đất khách, người ta sẽ bắt chúng nó làm tôi và hà hiếp trong bốn trăm năm.

:『使。』

shén yòu shuō :『 shǐ tā men zuò nú pú de nà guó , wǒ yào chéng fá 。 yǐ hòu tā men yào chū lái , zài zhè dì fāng shì fèng wǒ 。』

Đức Chúa Trời lại phán rằng: Nhưng ta sẽ đoán xét dân đã bắt chúng nó làm tôi, kế đó, chúng nó sẽ ra khỏi, và thờ phượng ta trong nơi nầy.

shén yòu cì tā gē lǐ de yuē 。 yú shì yà bó lā hǎn shēng le yǐ sā , dì bā rì gěi tā xíng le gē lǐ 。 yǐ sā shēng yǎ gè ; yǎ gè shēng shí èr wèi xiān zǔ 。

Đoạn, Đức Chúa Trời ban cho người sự giao ước về phép cắt bì. Aáy vậy, khi Aùp-ra-ham đã sanh một con trai là Y-sác, thì làm phép cắt bì cho, trong ngày thứ tám; Y-sác làm phép cắt bì cho Gia-cốp, và Gia-cốp làm phép ấy cho mười hai tổ phụ.

「 xiān zǔ jí dù yuē sè , bǎ tā mài dào āi jí qù ; shén què yǔ tā tóng zài ,

Mười hai tổ phụ ghen ghét Giô-sép, nên bán qua xứ Ê-díp-tô; nhưng Đức Chúa Trời ở cùng người.

使

jiù tā tuō lí yí qiè kǔ nàn , yòu shǐ tā zài āi jí wáng fǎ lǎo miàn qián dé ēn diǎn , yǒu zhì huì 。 fǎ lǎo jiù pài tā zuò āi jí guó de zǎi xiàng jiān guǎn quán jiā 。

Ngài giải cứu người khỏi cảnh khó khăn, và cho đầy ơn và trí trước mặt Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô, vua ấy lập người làm tể tướng cai quản xứ Ê-díp-tô và cả nhà vua nữa.

hòu lái āi jí hé jiā nán quán dì zāo yù jī huāng , dà shòu jiān nán , wǒ men de zǔ zōng jiù jué le liáng 。

Bấy giờ, xảy có cơn đói kém trong cả xứ Ê-díp-tô và xứ Ca-na-an; sự túng ngặt lớn lắm, tổ phụ chúng ta chẳng tìm được đồ ăn.

yǎ gè tīng jiàn zài āi jí yǒu liáng , jiù dǎ fā wǒ men de zǔ zōng chū cì wǎng nà lǐ qù 。

Gia-cốp nghe bên Ê-díp-tô có lúa mì, thì sai tổ phụ ta qua đó lần thứ nhất.

dì èr cì yuē sè yǔ dì xiong men xiāng rèn , tā de qīn zú yě bèi fǎ lǎo zhī dào le 。

Đến lần thứ hai, anh em Giô-sép nhận biết người, và Pha-ra-ôn mới biết dòng họ người.

yuē sè jiù dǎ fā dì xiong qǐng fù qīn yǎ gè hé quán jiā qī shí wǔ gè rén dōu lái 。

Giô-sép bèn sai rước Gia-cốp là cha mình và cả nhà, cộng là bảy mươi lăm người.

yú shì yǎ gè xià le āi jí , hòu lái tā hé wǒ men de zǔ zōng dōu sǐ zài nà lǐ ;

Vậy, Gia-cốp xuống xứ Ê-díp-tô, rồi chết tại đó, và tổ phụ chúng ta cũng vậy;

yòu bèi dài dào shì jiàn , zàng yú yà bó lā hǎn zài shì jiàn yòng yín zi cóng hā mǒ zǐ sūn mǎi lái de fén mù lǐ 。

sau được đem về Si-chem, chôn nơi mộ mà Aùp-ra-ham đã lấy bạc mua của con cháu Hê-mô quê ở Si-chem.

「 jí zhì shén yīng xǔ yà bó lā hǎn de rì qī jiāng dào , yǐ sè liè mín zài āi jí xīng shèng zhòng duō ,

Nhưng, gần đến kỳ phải ứng nghiệm lời hứa Đức Chúa Trời đã thề với Aùp-ra-ham, dân cứ sanh sản và thêm nhiều lên trong xứ Ê-díp-tô,

zhí dào yǒu bù xiǎo de yuē sè de xīn wáng xīng qǐ 。

cho đến khi trong xứ đó có một vua khác dấy lên, chẳng nhìn biết Giô-sép.

使

tā yòng guǐ jì dài wǒ men de zōng zú , kǔ hài wǒ men de zǔ zōng , jiào tā men diū qì yīng hái , shǐ yīng hái bù néng cún huó 。

Vua nầy dùng mưu hại dòng giống và hà hiếp tổ phụ chúng ta, ép phải bỏ con mới sanh, hầu cho sống chẳng được.

西

nà shí , mó xī shēng xià lái , jùn měi fēi fán , zài tā fù qìng jia lǐ fǔ yǎng le sān gè yuè 。

Trong lúc đó, Môi-se sanh ra; người xinh tốt khác thường, được nuôi trong ba tháng tại nhà cha mình.

tā bèi diū qì de shí hòu , fǎ lǎo de nǚ ér shí le qù , yǎng wèi zì jǐ de ér zi 。

Khi người bị bỏ, thì con gái Pha-ra-ôn vớt lấy, nuôi làm con mình.

西

mó xī xué le āi jí rén yí qiè de xué wèn , shuō huà xíng shì dōu yǒu cái néng 。

Môi-se được học cả sự khôn ngoan của người Ê-díp-tô; lời nói và việc làm đều có tài năng.

「 tā jiāng dào sì shí suì , xīn zhōng qǐ yì qù kàn wàng tā de dì xiong yǐ sè liè rén ;

Nhưng lúc người được đầy bốn mươi tuổi rồi, trong lòng nhớ đến, muốn đi thăm anh em mình là con cái Y-sơ-ra-ên.

dào le nà lǐ , jiàn tā men yí gè rén shòu yuān qū , jiù hù bì tā , wèi nà shòu qī yā de rén bào chóu , dǎ sǐ le nà āi jí rén 。

Môi-se thấy có người hà hiếp một người trong đám họ, nên binh vực kẻ bị hà hiếp và đánh người Ê-díp-tô để báo thù cho.

tā yǐ wèi dì xiong bì míng bái shén shì jiè tā de shǒu dā jiù tā men ; tā men què bù míng bái 。

Người ngờ anh em mình chắc hiểu rằng Đức Chúa Trời dùng tay mình giải cứu họ; nhưng họ chẳng hiểu.

:『?』

dì èr tiān , yù jiàn liǎng gè yǐ sè liè rén zhēng dòu , jiù quàn tā men hé mù , shuō :『 nǐ men èr wèi shì dì xiong , wèi shén me bǐ cǐ qī fù ne ?』

Đến ngày sau, chúng đang đánh lộn với nhau, thì người đến gần mà giải hòa, rằng: Hỡi các ngươi, đã là anh em, sao lại làm hại nhau vậy?

:『

nà qī fù lín shè de bǎ tā tuī kāi , shuō :『 shuí lì nǐ zuò wǒ men de shǒu lǐng hé shěn pàn guān ne ?

Kẻ đang ức hiếp người lân cận mình xô Môi se ra, mà rằng: Ai đã lập ngươi lên làm quan cai trị và quan xử đoán chúng ta?

?』

nán dào nǐ yào shā wǒ , xiàng zuó tiān shā nà āi jí rén ma ?』

Há ngươi muốn giết ta như hôm qua đã giết người Ê-díp-tô sao?

西

mó xī tīng jiàn zhè huà jiù táo zǒu le , jì jū yú mǐ diàn ; zài nà lǐ shēng le liǎng gè ér zi 。

Môi-se vừa nghe lời đó thì trốn đi ở trong xứ Ma-đi-an, nơi đó người sanh được hai con trai.

西使西

「 guò le sì shí nián , zài xī nài shān de kuàng yě , yǒu yí wèi tiān shǐ cóng jīng jí huǒ yàn zhōng xiàng mó xī xiǎn xiàn 。

Cách bốn mươi năm, một thiên sứ hiện ra cùng người, tại đồng vắng núi Si-na-i, trong ngọn lửa nơi bụi gai đang cháy.

西便

mó xī jiàn le nà yì xiàng , biàn jué xī qí , zhèng jìn qián guān kàn de shí hòu , yǒu zhǔ de shēng yīn shuō :

Môi-se thấy vậy, lấy làm lạ về sự hiện ra đó, đang áp lại để xem cho gần hơn, thì nghe tiếng Chúa phán rằng:

。』西

『 wǒ shì nǐ liè zǔ de shén , jiù shì yà bó lā hǎn de shén , yǐ sā de shén , yǎ gè de shén 。』 mó xī zhàn zhàn jīng jīng , bù gǎn guān kàn 。

Ta là Đức Chúa Trời của tổ phụ ngươi, Đức Chúa Trời của Aùp-ra-ham, của Y-sác và của Gia-cốp. Môi-se run sợ, chẳng dám nhìn xem.

:『

zhǔ duì tā shuō :『 bǎ nǐ jiǎo shàng de xié tuō xià lái , yīn wèi nǐ suǒ zhàn zhī dì shì shèng dì 。

Chúa bèn phán rằng: Hãy cổi giày ở chân ngươi ra; vì chỗ mà ngươi đứng đó là một nơi đất thánh.

。』

wǒ de bǎi xìng zài āi jí suǒ shòu de kùn kǔ , wǒ shí zài kàn jiàn le , tā men bēi tàn de shēng yīn , wǒ yě tīng jiàn le 。 wǒ xià lái yào jiù tā men 。 nǐ lái ! wǒ yào chà nǐ wǎng āi jí qù 。』

Ta đã đoái xem và thấy cảnh khó khăn của dân ta trong xứ Ê-díp-tô, ta đã nghe tiếng than thở của chúng nó, và xuống đặng giải cứu. Bây giờ hãy đến, đặng ta sai ngươi qua xứ Ê-díp-tô.

西使

zhè mó xī jiù shì bǎi xìng qì jué shuō 『 shuí lì nǐ zuò wǒ men de shǒu lǐng hé shěn pàn guān 』 de ; shén què jiè nà zài jīng jí zhōng xiǎn xiàn zhī shǐ zhě de shǒu chà pài tā zuò shǒu lǐng 、 zuò jiù shú de 。

Môi-se nầy là người họ đã bỏ ra, và rằng: Ai đã lập ngươi lên làm quan cai trị và quan đoán xét chúng ta? Aáy là người mà Đức Chúa Trời đã sai làm quan cai trị và đấng giải cứu, cậy tay một thiên sứ đã hiện ra với người trong bụi gai.

zhè rén lǐng bǎi xìng chū lái , zài āi jí , zài hóng hǎi , zài kuàng yě , sì shí nián jiān xíng le qí shì shén jì 。

Aáy là người đã đem họ ra khỏi, làm những dấu kỳ phép lạ trong xứ Ê-díp-tô, trên Biển-đỏ, và nơi đồng vắng trong bốn mươi năm.

西

nà céng duì yǐ sè liè rén shuō 『 shén yào cóng nǐ men dì xiōng zhōng jiān gěi nǐ men xīng qǐ yí wèi xiān zhī xiàng wǒ 』 de , jiù shì zhè wèi mó xī 。

Aáy là Môi-se nầy đã nói cùng con cái Y-sơ-ra-ên rằng: Đức Chúa Trời sẽ dấy lên trong hàng anh em các ngươi một đấng tiên tri giống như ta.

西使

zhè rén céng zài kuàng yě huì zhōng hé xī nài shān shàng , yǔ nà duì tā shuō huà de tiān shǐ tóng zài , yòu yǔ wǒ men de zǔ zōng tóng zài , bìng qiě lǐng shòu huó pō de shèng yán chuán gěi wǒ men 。

Aáy là người, trong dân hội tại nơi đồng vắng, đã ở với thiên sứ, là đấng phán cùng người trên núi Si-na-i, và với tổ phụ chúng ta, người lại nhận lấy những lời sự sống đặng trao lại cho các ngươi.

wǒ men de zǔ zōng bù kěn tīng cóng , fǎn qì jué tā , xīn lǐ guī xiàng āi jí ,

Aáy là người mà tổ phụ chúng ta không chịu vâng lời, đã bỏ người đặng nghiêng lòng về xứ Ê-díp-tô,

:『西。』

duì yà lún shuō :『 nǐ qiě wèi wǒ men zào xiē shén xiàng , zài wǒ men qián miàn yǐn lù ; yīn wèi lǐng wǒ men chū āi jí dì de nà ge mó xī , wǒ men bù zhī dào tā zāo le shén me shì 。』

và nói với A-rôn rằng: Hãy làm các thần đi trước chúng ta; vì về phần Môi-se nầy, là người đã dẫn chúng ta ra khỏi xứ Ê-díp-tô, chẳng biết có điều chi xảy đến cho người rồi.

nà shí , tā men zào le yí gè niú dú , yòu ná jì wù xiàn gěi nà xiàng , huān xǐ zì jǐ shǒu zhōng de gōng zuò 。

Trong những ngày đó, họ đúc một tượng bò con, dâng tế lễ cho tượng và vui mừng về việc tay mình làm nên.

shén jiù zhuǎn liǎn bú gù , rèn píng tā men shì fèng tiān shàng de rì yuè xīng chén , zhèng rú xiān zhī shū shàng suǒ xiě de shuō : yǐ sè liè jiā a , nǐ men sì shí nián jiān zài kuàng yě , qǐ shì jiāng xī shēng hé jì wù xiàn gěi wǒ ma ?

Đức Chúa Trời bèn lìa bỏ họ, phú họ thờ lạy cơ binh trên trời, như có chép trong sách các đấng tiên tri rằng: Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, vậy có phải các ngươi từng dâng con sinh và của lễ cho ta, Trong bốn mươi năm ở nơi đồng vắng,

nǐ men tái zhe mó luò de zhàng mù hé lǐ fān shén de xīng , jiù shì nǐ men suǒ zào wèi yào jìng bài de xiàng 。 yīn cǐ , wǒ yào bǎ nǐ men qiān dào bā bǐ lún wài qù 。

Khi các ngươi khiêng nhà trại của Mo-lóc Và ngôi sao của thần Rom-phan, Tức là những hình tượng mà các ngươi làm ra để thờ lạy chăng? Ta cũng sẽ đày các ngươi qua bên kia Ba-by-lôn.

西

「 wǒ men de zǔ zōng zài kuàng yě , yǒu fǎ guì de zhàng mù , shì shén fēn fù mó xī jiào tā zhào suǒ kàn jiàn de yàng shì zuò de 。

Đền tạm chứng cớ vốn ở giữa tổ phụ chúng ta trong đồng vắng, như Chúa đã truyền lịnh cho Môi-se phải làm y theo kiểu mẫu người đã thấy.

zhè zhàng mù , wǒ men de zǔ zōng xiāng jì chéng shòu 。 dāng shén zài tā men miàn qián gǎn chū wài bāng rén qù de shí hòu , tā men tóng yuē shū yà bǎ zhàng mù bān jìn chéng shòu wèi yè zhī dì , zhí cún dào dà wèi de rì zi 。

Tổ phụ chúng ta đã nhận lấy đền tạm ấy, rồi đồng đi với Giô-suê đem vào xứ họ đã chiếm lấy của các dân mà Đức Chúa Trời đã đuổi khỏi trước mặt họ; đền tạm cứ ở đó cho đến đời vua Đa-vít,

dà wèi zài shén miàn qián méng ēn , qí qiú wèi yǎ gè de shén yù bèi jū suǒ ;

là người được ơn trước mặt Đức Chúa Trời, và xin ban một chỗ ở cho Đức Chúa Trời của Gia-cốp.

殿

què shì suǒ luó mén wèi shén zào chéng diàn yǔ 。

Kế đó, vua Sa-lô-môn cất cho Chúa một cái nhà.

qí shí , zhì gāo zhě bìng bú zhù rén shǒu suǒ zào de , jiù rú xiān zhī suǒ yán :

Nhưng Đấng Rất Cao chẳng ở trong nhà bởi tay người ta làm ra, như đấng tiên tri đã nói:

殿

zhǔ shuō : tiān shì wǒ de zuò wèi , dì shì wǒ de jiǎo dèng ; nǐ men yào wèi wǒ zào hé děng de diàn yǔ ? nǎ lǐ shì wǒ ān xī de dì fāng ne ?

Chúa phán: Trời là ngai ta, Đất là bệ chân ta. Nào có nhà nào các ngươi cất cho ta, Có nơi nào cho ta yên nghỉ chăng?

zhè yí qiè bù dōu shì wǒ shǒu suǒ zào de ma ?

Há chẳng phải tay ta đã dựng nên mọi vật nầy chăng?

「 nǐ men zhè yìng zhe jǐng xiàng 、 xīn yǔ ěr wèi shòu gē lǐ de rén , cháng shí kàng jù shèng líng ! nǐ men de zǔ zōng zěn yàng , nǐ men yě zěn yàng 。

Hỡi những người cứng cổ, lòng và tai chẳng cắt bì kia! Các ngươi cứ nghịch với Đức Thánh Linh hoài; tổ-phụ các ngươi thế nào, thì các ngươi cũng thế ấy!

nǎ yí gè xiān zhī bú shì nǐ men zǔ zōng bī pò ne ? tā men yě bǎ yù xiān chuán shuō nà yì zhě yào lái de rén shā le ; rú jīn nǐ men yòu bǎ nà yì zhě mài le , shā le 。

Há có đấng tiên tri nào mà tổ phụ các ngươi chẳng bắt bớ ư? Họ cũng đã giết những người nói tiên tri về sự đến của Đấng Công bình; và hiện bây giờ chính các ngươi lại đã nộp và giết Đấng đó;

使。」

nǐ men shòu le tiān shǐ suǒ chuán de lǜ fǎ , jìng bù zūn shǒu 。」

các ngươi đã nhận luật pháp truyền bởi các thiên sứ, nhưng không giữ lấy!...

齿

zhòng rén tīng jiàn zhè huà jiù jí qí nǎo nù , xiàng sī tí fǎn yǎo yá qiè chǐ 。

Chúng nghe những lời đó, thì giận trong lòng, và nghiến răng với Ê-tiên.

耀

dàn sī tí fǎn bèi shèng líng chōng mǎn , dìng jīng wàng tiān , kàn jiàn shén de róng yào , yòu kàn jiàn yē sū zhàn zài shén de yòu biān ,

Nhưng người, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, mắt ngó chăm lên trời, thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Jêsus đứng bên hữu Đức Chúa Trời;

:「 。」

jiù shuō :「 wǒ kàn jiàn tiān kāi le , rén zǐ zhàn zài shén de yòu biān 。」

thì người nói rằng: Kìa, ta thấy các từng trời mở ra, và Con người đứng bên hữu Đức Chúa Trời.

zhòng rén dà shēng hǎn jiào , wǔ zhe ěr duo , qí xīn yōng shàng qián qù ,

Bấy giờ, chúng kêu lớn tiếng lên, bịt lỗ tai lại, cùng nhau chạy a lại,

bǎ tā tuī dào chéng wài , yòng shí tou dǎ tā 。 zuò jiàn zhèng de rén bǎ yī shang fàng zài yí gè shào nián rén míng jiào sǎo luó de jiǎo qián 。

kéo người ra ngoài thành, rồi ném đá người. Các kẻ làm chứng lấy áo xống mình để nơi chân một người trẻ tuổi kia tên là Sau-lơ.

:「!」

tā men zhèng yòng shí tou dǎ de shí hòu , sī tí fǎn hū yù zhǔ shuō :「 qiú zhǔ yē sū jiē shōu wǒ de líng hún !」

Chúng đang ném đá, thì Ê-tiên cầu nguyện rằng: Lạy Đức Chúa Jêsus, xin tiếp lấy linh hồn tôi.

:「!」

yòu guì xià dà shēng hǎn zhe shuō :「 zhǔ a , bú yào jiāng zhè zuì guī yú tā men !」 shuō le zhè huà , jiù shuì le 。 sǎo luó yě xǐ yuè tā bèi hài 。

Đoạn, người quì xuống, kêu lớn tiếng rằng: Lạy Chúa, xin đừng đổ tội nầy cho họ! Người vừa nói lời đó rồi, thì ngủ.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.