中文圣经

ĐA-NIÊN 3

đã biết 0/267

ní bù jiǎ ní sā wáng zào le yí gè jīn xiàng , gāo liù shí zhǒu , kuān liù zhǒu , lì zài bā bǐ lún shěng dù lā píng yuán 。

Vua Nê-bu-cát-nết-sa làm một pho tượng bằng vàng, cao sáu mươi cu-đê và ngang sáu cu-đê, để đứng trong đồng bằng Đu-ra, thuộc tỉnh Ba-by-lôn.

ní bù jiǎ ní sā wáng chà rén jiāng zǒng dū 、 qīn chāi 、 xún fǔ 、 niè sī 、 fān sī 、 móu shì 、 fǎ guān , hé gè shěng de guān yuán dōu zhào le lái , wèi ní bù jiǎ ní sā wáng suǒ lì de xiàng xíng kāi guāng zhī lǐ 。

Đoạn, vua Nê-bu-cát-nết-sa sai nhóm các quan trấn thủ, lãnh binh, các công tước, các quan đề hình, thủ kho, các nghị viên, quản đốc, và các quan làm đầu các tỉnh, để dự lễ khánh thành pho tượng mà vua Nê-bu-cát-nết-sa đã dựng lên.

yú shì zǒng dū 、 qīn chāi 、 xún fǔ 、 niè sī 、 fān sī 、 móu shì 、 fǎ guān , hé gè shěng de guān yuán dōu jù jí le lái , yào wèi ní bù jiǎ ní sā wáng suǒ lì de xiàng xíng kāi guāng zhī lǐ , jiù zhàn zài ní bù jiǎ ní sā suǒ lì de xiàng qián 。

Vậy, các quan trấn thủ, lãnh binh, các công tước, các quan đề hình, thủ kho, các nghị viên, quản đốc, và hết thảy những người làm đầu các tỉnh đều nhóm lại để dự lễ khánh thành pho tượng mà vua Nê-bu-cát-nết-sa đã dựng lên; và họ đứng trước pho tượng mà vua Nê-bu-cát-nết-sa đã dựng.

:「

nà shí chuán lìng de dà shēng hū jiào shuō :「 gè fāng 、 gè guó 、 gè zú de rén nǎ , yǒu lìng chuán yǔ nǐ men :

Bấy giờ sứ giả rao lớn tiếng lên rằng: Các dân, các nước, các thứ tiếng, đây nầy, lịnh truyền cho các ngươi.

nǐ men yì tīng jiàn jiǎo 、 dí 、 pí pa 、 qín 、 sè 、 shēng , hé gè yàng yuè qì de shēng yīn , jiù dāng fǔ fú jìng bài ní bù jiǎ ní sā wáng suǒ lì de jīn xiàng 。

Khi nào các ngươi nghe tiếng còi, kèn, đàn cầm, đàn sắt, quyển, sáo và các thứ nhạc khí, thì khá sấp mình xuống để thờ lạy tượng vàng mà vua Nê-bu-cát-nết-sa đã dựng.

。」

fán bù fǔ fú jìng bài de , bì lì shí rēng zài liè huǒ de yáo zhōng 。」

Kẻ nào không sấp mình xuống và không thờ lạy, tức thì sẽ phải quăng vào giữa lò lửa hực.

yīn cǐ gè fāng 、 gè guó 、 gè zú de rén mín yì tīng jiàn jiǎo 、 dí 、 pí pa 、 qín 、 sè , hé gè yàng yuè qì de shēng yīn , jiù dōu fǔ fú jìng bài ní bù jiǎ ní sā wáng suǒ lì de jīn xiàng 。

Vậy nên, khi các dân nghe tiếng còi, kèn, đàn cầm, đàn sắt, quyển, và các thứ nhạc khí, thì các dân, các nước, các thứ tiếng, thảy đều sấp mình xuống, và thờ lạy pho tượng vàng mà vua Nê-bu-cát-nết-sa đã dựng.

nà shí , yǒu jǐ gè jiā lè dǐ rén jìn qián lái kòng gào yóu dà rén 。

Khi ấy, có mấy người Canh-đê đến gần để tố cáo những người Giu-đa.

:「

tā men duì ní bù jiǎ ní sā wáng shuō :「 yuàn wáng wàn suì !

Vậy họ cất tiếng và tâu cùng vua Nê-bu-cát-nết-sa rằng: Hỡi vua, nguyền vua sống đời đời!

wáng a , nǐ céng jiàng zhǐ shuō , fán tīng jiàn jiǎo 、 dí 、 pí pá 、 qín 、 sè 、 shēng , hé gè yàng yuè qì shēng yīn de dōu dāng fǔ fú jìng bài jīn xiàng 。

Hỡi vua, chính vua đã ra lịnh, hễ người nào nghe tiếng còi, kèn, đàn cầm, đàn sắt, quyển, sáo và các thứ nhạc khí, thì phải sấp mình xuống để thờ lạy tượng vàng;

fán bù fǔ fú jìng bài de , bì rēng zài liè huǒ de yáo zhōng 。

và kẻ nào không sấp mình xuống để thờ lạy tượng đó, sẽ phải quăng vào giữa lò lửa hực.

。」

xiàn zài yǒu jǐ gè yóu dà rén , jiù shì wáng suǒ pài guǎn lǐ bā bǐ lún shěng shì wù de shā dé lā 、 mǐ shà 、 yà bó ní gē ; wáng a , zhè xiē rén bù lǐ nǐ , bú shì fèng nǐ de shén , yě bú jìng bài nǐ suǒ lì de jīn xiàng 。」

Vả, ở đây có mấy người Giu-đa kia mà vua đã lập lên cai trị tỉnh Ba-by-lôn, tức là Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô; hỡi vua, những người ấy không kiêng nể vua một chút nào. Họ chẳng thờ các thần của vua, và chẳng lạy tượng vàng vua đã dựng.

dāng shí , ní bù jiǎ ní sā chōng chōng dà nù , fēn fù rén bǎ shā dé lā 、 mǐ shà 、 yà bó ní gē dài guò lái , tā men jiù bǎ nà xiē rén dài dào wáng miàn qián 。

Bấy giờ, vua Nê-bu-cát-nết-sa tức mình nổi giận, truyền điệu Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô đến, thì những người đó bị điệu đến trước mặt vua.

:「

ní bù jiǎ ní sā wèn tā men shuō :「 shā dé lā 、 mǐ shà 、 yà bó ní gē , nǐ men bú shì fèng wǒ de shén , yě bú jìng bài wǒ suǒ lì de jīn xiàng , shì gù yì de ma ?

Vua Nê-bu-cát-nết-sa cất tiếng nói cùng họ rằng: Hỡi Sa-đơ-rắc, Mê-sác, A-bết-Nê-gô, có phải các ngươi cố ý không thờ thần ta và không lạy tượng vàng mà ta đã dựng lên chăng?

?」

nǐ men zài tīng jiàn jiǎo 、 dí 、 pí pa 、 qín 、 sè 、 shēng , hé gè yàng yuè qì de shēng yīn , ruò fǔ fú jìng bài wǒ suǒ zào de xiàng , què hái kě yǐ ; ruò bú jìng bài , bì lì shí rēng zài liè huǒ de yáo zhōng , yǒu hé shén néng jiù nǐ men tuō lí wǒ shǒu ne ?」

Vậy bây giờ, khi các ngươi nghe tiếng còi, kèn, đàn cầm, đàn sắt, quyển, sáo và các thứ nhạc khí, mà các ngươi sẵn sàng sấp mình xuống đất để quì lạy pho tượng mà ta đã làm nên, thì được; nhưng nếu các ngươi không quì lạy, thì chính giờ đó các ngươi sẽ phải quăng vào giữa lò lửa hực. Rồi thần nào có thể giải cứu các ngươi khỏi tay ta?

:「

shā dé lā 、 mǐ shà 、 yà bó ní gē duì wáng shuō :「 ní bù jiǎ ní sā a , zhè jiàn shì wǒ men bú bì huí dá nǐ ,

Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô tâu lại cùng vua rằng: Hỡi Nê-bu-cát-nết-sa, về sự nầy, không cần chi chúng tôi tâu lại cho vua.

便

jí biàn rú cǐ , wǒ men suǒ shì fèng de shén néng jiāng wǒ men cóng liè huǒ de yáo zhōng jiù chū lái 。 wáng a , tā yě bì jiù wǒ men tuō lí nǐ de shǒu ;

Nầy, hỡi vua! Đức Chúa Trời mà chúng tôi hầu việc, có thể cứu chúng tôi thoát khỏi lò lửa hực, và chắc cứu chúng tôi khỏi tay vua.

。」

jí huò bù rán , wáng a , nǐ dāng zhī dào wǒ men jué bú shì fèng nǐ de shén , yě bú jìng bài nǐ suǒ lì de jīn xiàng 。」

Dầu chẳng vậy, hỡi vua, xin biết rằng chúng tôi không hầu việc các thần của vua, và không thờ phượng pho tượng vàng mà vua đã dựng.

dāng shí , ní bù jiǎ ní sā nù qì tián xiōng , xiàng shā dé lā 、 mǐ shà 、 yà bó ní gē biàn le liǎn sè , fēn fù rén bǎ yáo shāo rè , bǐ xún cháng gèng jiā qī bèi ;

Bấy giờ, vua Nê-bu-cát-nết-sa cả giận, biến sắc mặt nghịch cùng Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô; và cất tiếng truyền đốt lò lửa nóng gấp bảy lần hơn lúc bình thường đã đốt.

yòu fēn fù tā jūn zhōng de jǐ gè zhuàng shì , jiāng shā dé lā 、 mǐ shà 、 yà bó ní gē kǔn qǐ lái , rēng zài liè huǒ de yáo zhōng 。

Vua sai mấy người mạnh bạo kia trong đạo binh mình trói Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô, mà quăng vào lò lửa hực.

穿

zhè sān rén chuān zhe kù zǐ 、 nèi páo 、 wài yī , hé bié de yī fu , bèi kǔn qǐ lái rēng zài liè huǒ de yáo zhōng 。

Tức thì các người ấy bị trói luôn với quần trong, áo dài, áo ngắn và các áo xống khác, rồi người ta quăng họ vào giữa lò lửa hực.

yīn wèi wáng mìng jǐn jí , yáo yòu shèn rè , nà tái shā dé lā 、 mǐ shà 、 yà bó ní gē de rén dōu bèi huǒ yàn shāo sǐ 。

Nhân vì mạng vua truyền kíp lắm, mà lò lửa thì đốt nóng lạ thường, nên những người quăng Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô bị ngọn lửa cháy chết.

shā dé lā 、 mǐ shà 、 yà bó ní gē zhè sān gè rén dōu bèi kǔn zhuó luò zài liè huǒ de yáo zhōng 。

Còn ba người, Sa-đơ-rắc, Mê-sác, A-bết-Nê-gô, vẫn bị trói mà rơi vào giữa lò lửa hực.

:「?」:「。」

nà shí , ní bù jiǎ ní sā wáng jīng qí , jí máng qǐ lái , duì móu shì shuō :「 wǒ men kǔn qǐ lái rēng zài huǒ lǐ de bú shì sān gè rén ma ?」 tā men huí dá wáng shuō :「 wáng a , shì 。」

Bấy giờ, vua Nê-bu-cát-nết-sa lấy làm lạ, vội vàng đứng dậy, cất tiếng nói cùng các nghị viên rằng: Những kẻ bị ta trói mà quăng vào giữa lửa có phải là ba người không? Họ tâu cùng vua rằng: Tâu vua, phải.

:「。」

wáng shuō :「 kàn nǎ , wǒ jiàn yǒu sì gè rén , bìng méi yǒu kǔn bǎng , zài huǒ zhōng yóu xíng , yě méi yǒu shòu shāng ; nà dì sì gè de xiàng mào hǎo xiàng shén zǐ 。」

Vua lại nói, Nầy, ta thấy bốn người không có bị trói, bước đi giữa lửa mà chẳng bị thương; và hình dong của người thứ tư giống như một con trai của các thần.

:「 !」

yú shì , ní bù jiǎ ní sā jiù jìn liè huǒ yáo mén , shuō :「 zhì gāo shén de pú rén shā dé lā 、 mǐ shà 、 yà bó ní gē chū lái , shàng zhè lǐ lái ba !」 shā dé lā 、 mǐ shà 、 yà bó ní gē jiù cóng huǒ zhōng chū lái le 。

Đoạn, vua Nê-bu-cát-nết-sa đến gần cửa lò lửa hực, cất tiếng nói rằng: Hỡi Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô, là tôi tớ của Đức Chúa Trời Rất Cao, hãy ra và lại đây! Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô bèn từ giữa đám lửa mà ra.

nà xiē zǒng dū 、 qīn chāi 、 xún fǔ , hé wáng de móu shì yì tóng jù jí kàn zhè sān gè rén , jiàn huǒ wú lì shāng tā men de shēn tǐ , tóu fā yě méi yǒu shāo jiāo , yī shang yě méi yǒu biàn sè , bìng méi yǒu huǒ liáo de qì wèi 。

Các quan trấn thủ, lãnh binh, các người cai trị và các nghị viên của vua đều nhóm lại, thấy lửa không có quyền làm hại thân thể ba người ấy được, cũng chẳng có một sợi tóc nào trên đầu họ bị sém; áo xống họ chẳng bị si sứt chút nào, và mùi lửa cũng chẳng qua trên họ.

:「 使

ní bù jiǎ ní sā shuō :「 shā dé lā 、 mǐ shà 、 yà bó ní gē de shén shì yīng dāng chēng sòng de ! tā chāi qiǎn shǐ zhě jiù hù yǐ kào tā de pú rén , tā men bù zūn wáng mìng , shè qù jǐ shēn , zài tā men shén yǐ wài bù kěn shì fèng jìng bài bié shén 。

Vua Nê-bu-cát-nết-sa lại cất tiếng nói rằng: Đáng ngợi khen Đức Chúa Trời của Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô! Ngài đã sai thiên sứ Ngài và giải cứu các tôi tớ Ngài nhờ cậy Ngài, họ đã trái mạng vua, và liều bỏ thân thể mình, hầu để không hầu việc và không thờ phượng thần nào khác ngoài Đức Chúa Trời mình.

。」

xiàn zài wǒ jiàng zhǐ , wú lùn hé fāng 、 hé guó 、 hé zú de rén , bàng shā dé lā 、 mǐ shà 、 yà bó ní gē zhī shén de , bì bèi líng chí , tā de fáng wū bì chéng fèn duī , yīn wèi méi yǒu bié shén néng zhè yàng shī xíng zhěng jiù 。」

Cho nên ta ban chiếu chỉ nầy: Bất kỳ dân nào, nước nào, thứ tiếng nào, hễ có người nói xấu đến Đức Chúa Trời của Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô, thì sẽ bị phân thây, nhà nó sẽ phải thành ra đống phân, vì không có thần nào khác có thể giải cứu được thể nầy.

nà shí wáng zài bā bǐ lún shěng , gāo shēng le shā dé lā 、 mǐ shà 、 yà bó ní gē 。

Vua bèn thăng chức cho Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô trong tỉnh Ba-by-lôn.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.