中文圣经

ĐA-NIÊN 9

đã biết 0/306

mǐ dǐ yà zú yà hā suí lǔ de ér zi dà liú shì lì wèi jiā lè dǐ guó de wáng yuán nián ,

Năm đầu Đa-ri-út con trai A-suê-ru, về dòng người Mê-đi, đã được lập làm vua trị nước người Canh-đê;

jiù shì tā zài wèi dì yī nián , wǒ — dàn yǐ lǐ cóng shū shàng dé zhī yē hé huá de huà lín dào xiān zhī yē lì mǐ , lùn yē lù sā lěng huāng liáng de nián shù , qī shí nián wèi mǎn 。

đang năm đầu về triều người, ta, Đa-ni-ên, bởi các sách biết rằng số năm mà lời Đức Giê-hô-va đã phán cùng đấng tiên tri Giê-rê-mi, để cho trọn sự hoang vu thành Giê-ru-sa-lem, là bảy mươi năm.

便

wǒ biàn jìn shí , pī má méng huī , dìng yì xiàng zhǔ shén qí dǎo kěn qiú 。

Ta để mặt hướng về Chúa là Đức Chúa Trời, lấy sự khấn nguyện, nài xin, với sự kiêng ăn, mặc bao gai, đội tro mà tìm.

:「

wǒ xiàng yē hé huá — wǒ de shén qí dǎo 、 rèn zuì , shuō :「 zhǔ a , dà ér kě wèi de shén , xiàng ài zhǔ 、 shǒu zhǔ jiè mìng de rén shǒu yuē shī cí ài 。

Vậy, ta cầu nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta, và ta xưng tội cùng Ngài mà rằng: Oâi! Chúa là Đức Chúa Trời cao cả và đáng khiếp sợ! Ngài giữ lời giao ước và sự nhân từ đối với những kẻ yêu Ngài và giữ các điều răn Ngài,

wǒ men fàn zuì zuò niè , xíng è pàn nì , piān lí nǐ de jiè mìng diǎn zhāng ,

chúng tôi đã phạm tội, làm sự trái ngược, ăn ở hung dữ, chúng tôi đã bạn nghịch và đã xây bỏ các giềng mối và lệ luật của Ngài.

méi yǒu tīng cóng nǐ pú rén zhòng xiān zhī fèng nǐ míng xiàng wǒ men jūn wáng 、 shǒu lǐng 、 liè zǔ , hé guó zhōng yí qiè bǎi xìng suǒ shuō de huà 。

Chúng tôi đã không nghe các tôi tớ Ngài là các đấng tiên tri, đã lấy danh Ngài mà nói cùng các vua, các quan trưởng, các tổ phụ chúng tôi, và cùng cả dân trong đất.

zhǔ a , nǐ shì gōng yì de , wǒ men shì liǎn shàng méng xiū de ; yīn wǒ men yóu dà rén hé yē lù sā lěng de jū mín , bìng yǐ sè liè zhòng rén , huò zài jìn chù , huò zài yuǎn chù , bèi nǐ gǎn dào gè guó de rén , dōu dé zuì le nǐ , zhèng rú jīn rì yí yàng 。

Hỡi Chúa, sự công bình thuộc về Ngài, còn sự hổ mặt về chúng tôi, như ngày nay, sự ấy bao trùm người Giu-đa, dân cư Giê-ru-sa-lem, hết thảy người Y-sơ-ra-ên ở gần ở xa, trong mọi nước mà Ngài đã làm cho họ tan tác, vì cớ những sự gian ác họ đã phạm nghịch cùng Ngài.

zhǔ a , wǒ men hé wǒ men de jūn wáng 、 shǒu lǐng 、 liè zǔ yīn dé zuì le nǐ , jiù dōu liǎn shàng méng xiū 。

Hỡi Chúa, sự hổ mặt thuộc về chúng tôi, về các vua, các quan trưởng, các tổ phụ chúng tôi, bởi chúng tôi đã phạm tội nghịch cùng Ngài.

zhǔ — wǒ men de shén shì lián mǐn ráo shù rén de , wǒ men què wéi bèi le tā ,

Những sự thương xót và tha thứ đều thuộc về Chúa là Đức Chúa Trời chúng tôi; bởi chúng tôi đã bạn nghịch cùng Ngài.

yě méi yǒu tīng cóng yē hé huá — wǒ men shén de huà , méi yǒu zūn xíng tā jiè pú rén zhòng xiān zhī xiàng wǒ men suǒ chén míng de lǜ fǎ 。

Chúng tôi đã chẳng nghe lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, đặng bước đi trong luật pháp mà Ngài đã cậy tôi tớ Ngài là các đấng tiên tri để trước mặt chúng tôi.

西

yǐ sè liè zhòng rén dōu fàn le nǐ de lǜ fǎ , piān xíng , bù tīng cóng nǐ de huà ; yīn cǐ , zài nǐ pú rén mó xī lǜ fǎ shàng suǒ xiě de zhòu zǔ hé shì yán dōu qīng zài wǒ men shēn shàng , yīn wǒ men dé zuì le shén 。

Hết thảy người Y-sơ-ra-ên đã phạm luật pháp Ngài và xây đi để không vâng theo tiếng Ngài. Vậy nên sự rủa sả, và thề nguyền chép trong luật pháp Môi-se là tôi tớ của Đức Chúa Trời, đã đổ ra trên chúng tôi, vì chúng tôi đã phạm tội nghịch cùng Ngài.

使

tā shǐ dà zāi huò lín dào wǒ men , chéng jiù le jǐng jiè wǒ men hé shěn pàn wǒ men guān cháng de huà ; yuán lái zài pǔ tiān zhī xià wèi céng xíng guò xiàng zài yē lù sā lěng suǒ xíng de 。

Ngài đã làm cho chắc các lời đã phán nghịch cùng chúng tôi, cùng các quan án đã đoán xét chúng tôi, mà khiến tai vạ lớn đến trên chúng tôi; vì khắp dưới trời chẳng hề có tai vạ nào giống như đã làm ra trên Giê-ru-sa-lem.

西 使

zhè yí qiè zāi huò lín dào wǒ men shēn shàng shì zhào mó xī lǜ fǎ shàng suǒ xiě de , wǒ men què méi yǒu qiú yē hé huá — wǒ men shén de ēn diǎn , shǐ wǒ men huí tóu lí kāi zuì niè , míng bái nǐ de zhēn lǐ 。

Cả tai vạ nầy đã đến trên chúng tôi như có chép trong luật pháp Môi-se; mà chúng tôi cũng không nài xin ơn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, đặng xây bỏ khỏi sự gian ác mình và thấu rõ đạo thật của Ngài.

使

suǒ yǐ yē hé huá liú yì shǐ zhè zāi huò lín dào wǒ men shēn shàng , yīn wèi yē hé huá — wǒ men de shén zài tā suǒ xíng de shì shàng dōu shì gōng yì ; wǒ men bìng méi yǒu tīng cóng tā de huà 。

Bởi cớ đó, Đức Giê-hô-va ngắm xem và giáng tai vạ ấy trên chúng tôi; vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi là công bình trong mọi việc Ngài làm, chỉn chúng tôi không vâng theo tiếng Ngài.

使

zhǔ — wǒ men de shén a , nǐ céng yòng dà néng de shǒu lǐng nǐ de zǐ mín chū āi jí dì , shǐ zì jǐ dé le míng , zhèng rú jīn rì yí yàng 。 wǒ men fàn le zuì , zuò le è 。

Bây giờ, hỡi Chúa là Đức Chúa Trời chúng tôi, Ngài đã lấy tay mạnh đem dân Ngài ra khỏi đất Ê-díp-tô, đã làm nên cho mình một danh tiếng như ngày nay; còn chúng tôi đã phạm tội, đã làm việc ác.

使忿

zhǔ a , qiú nǐ àn nǐ de dà rén dà yì , shǐ nǐ de nù qì hé fèn nù zhuǎn lí nǐ de chéng yē lù sā lěng , jiù shì nǐ de shèng shān 。 yē lù sā lěng hé nǐ de zǐ mín , yīn wǒ men de zuì è hé wǒ men liè zǔ de zuì niè bèi sì wéi de rén xiū rǔ 。

Hỡi Chúa, tôi cầu xin Chúa cứ mọi sự công bình Ngài khiến cơn giận và thạnh nộ của Ngài xây khỏi thành Giê-ru-sa-lem Ngài, tức là núi thánh Ngài; vì ấy là bởi tội lỗi chúng tôi và sự gian ác tổ phụ chúng tôi mà Giê-ru-sa-lem và dân Ngài phải chịu những kẻ ở chung quanh chúng tôi sỉ nhục.

使

wǒ men de shén a , xiàn zài qiú nǐ chuí tīng pú rén de qí dǎo kěn qiú , wèi zì jǐ shǐ liǎn guāng zhào nǐ huāng liáng de shèng suǒ 。

Cho nên bây giờ, hỡi Đức Chúa Trời chúng tôi, xin đoái nghe lời khấn nguyện nài xin của kẻ tôi tớ Ngài! Xin vì cớ Chúa, hãy rạng mặt Ngài ra trên nơi thánh vắng vẻ của Ngài!

wǒ de shén a , qiú nǐ cè ěr ér tīng , zhēng yǎn ér kàn , juàn gù wǒ men huāng liáng zhī dì hé chēng wéi nǐ míng xià de chéng 。 wǒ men zài nǐ miàn qián kěn qiú , yuán bú shì yīn zì jǐ de yì , nǎi yīn nǐ de dà lián mǐn 。

Hỡi Đức Chúa Trời tôi, xin ghé tai và nghe. Xin mở mắt nhìn xem những nơi hoang vu của chúng tôi, và thành đã được xưng bởi danh Ngài! Không phải cậy những sự công bình mình mà chúng tôi nài xin Ngài, nhưng cậy những sự thương xót cả thể của Ngài.

。」

qiú zhǔ chuí tīng , qiú zhǔ shè miǎn , qiú zhǔ yīng yǔn ér xíng , wèi nǐ zì jǐ bú yào chí yán 。 wǒ de shén a , yīn zhè chéng hé zhè mín dōu shì chēng wéi nǐ míng xià de 。」

Hỡi Chúa! hãy dủ nghe; hỡi Chúa! hãy tha thứ; hỡi Chúa! hãy để ý và làm đi. Hỡi Đức Chúa Trời tôi! vì cớ chính Ngài, xin chớ trì hoãn; vì thành Ngài và dân Ngài đã được xưng bằng danh Ngài!

wǒ shuō huà , dǎo gào , chéng rèn wǒ de zuì hé běn guó zhī mín yǐ sè liè de zuì , wèi wǒ shén de shèng shān , zài yē hé huá — wǒ shén miàn qián kěn qiú 。

Ta còn đang nói và cầu nguyện, xưng tội lỗi ta và tôi lỗi dân Y-sơ-ra-ên ta và ta dâng lời nài xin trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta, vì núi thánh Đức Chúa Trời ta;

wǒ zhèng dǎo gào de shí hòu , xiān qián zài yì xiàng zhōng suǒ jiàn de nà wèi jiā bǎi liè , fèng mìng xùn sù fēi lái , yuē zài xiàn wǎn jì de shí hòu , àn shǒu zài wǒ shēn shàng 。

vậy ta còn nói trong khi cầu nguyện, nầy, Gáp-ri-ên, người mà ta đã thấy trong sự hiện thấy lúc đầu tiên, được sai bay mau đến đụng ta độ lúc dâng lễ chiều hôm.

:「使

tā zhǐ jiào wǒ shuō :「 dàn yǐ lǐ a , xiàn zài wǒ chū lái yào shǐ nǐ yǒu zhì huì , yǒu cōng ming 。

Người dạy dỗ ta và nói cùng ta rằng: Hỡi Đa-ni-ên, bây giờ ta ra để ban sự khôn ngoan và thông sáng cho ngươi.

nǐ chū kěn qiú de shí hòu , jiù fā chū mìng lìng , wǒ lái gào sù nǐ , yīn nǐ dà méng juàn ài ; suǒ yǐ nǐ yào sī xiǎng míng bái zhè yǐ xià de shì hé yì xiàng 。

Lời phán dặn đã ra từ khi ngươi bắt đầu nài xin; và ta đến để tỏ lời đó cho ngươi, vì ngươi đã được yêu quí lắm. Vậy hãy suy nghĩ sự đó và hãy hiểu biết sự hiện thấy.

「 wèi nǐ běn guó zhī mín hé nǐ shèng chéng , yǐ jīng dìng le qī shí gè qī 。 yào zhǐ zhù zuì guo , chú jìng zuì è , shú jìn zuì niè , yǐn jìn yǒng yì , fēng zhù yì xiàng hé yù yán , bìng gāo zhì shèng zhě 。

Có bảy mươi tuần lễ định trên dân ngươi và thành thánh ngươi, đặng ngăn sự phạm phép, trừ tội lỗi, làm sạch sự gian ác, và đem sự công bình đời đời vào, đặng đặt ấn tín nơi sự hiện thấy và lời tiên tri, và xức dầu cho Đấng rất thánh.

nǐ dāng zhī dào , dāng míng bái , cóng chū lìng chóng xīn jiàn zào yē lù sā lěng , zhí dào yǒu shòu gāo jūn de shí hòu , bì yǒu qī gè qī hé liù shí èr gè qī 。 zhèng zài jiān nán de shí hòu , yē lù sā lěng chéng lián jiē dài háo dōu bì chóng xīn jiàn zào 。

Ngươi khá biết và hiểu rằng từ khi ra lịnh tu bổ và xây lại Giê-ru-sa-lem, cho đến Đấng chịu xức dầu, tức là vua, thì được bảy tuần lễ và sáu mươi hai tuần lễ; thành đó sẽ được xây lại, có đường phố và hào, trong kỳ khó khăn.

guò le liù shí èr gè qī , nà shòu gāo zhě bì bèi jiǎn chú , yì wú suǒ yǒu ; bì yǒu yì wáng de mín lái huǐ miè zhè chéng hé shèng suǒ , zhì zhōng bì rú hóng shuǐ chōng méi 。 bì yǒu zhēng zhàn , yì zhí dào dǐ , huāng liáng de shì yǐ jīng dìng le 。

Sau sáu mươi hai tuần lễ đó, Đấng chịu xức dầu sẽ bị trừ đi, và sẽ không có chi hết. Có dân của vua hầu đến sẽ hủy phá thành và nơi thánh; cuối cùng nó sẽ như bị nước lụt ngập, có sự tranh chiến cho đến cuối cùng; những sự hoang vu đã định.

使 忿。」

yī qī zhī nèi , tā bì yǔ xǔ duō rén jiān dìng méng yuē ; yī qī zhī bàn , tā bì shǐ jì sì yǔ gòng xiàn zhǐ xī 。 nà xíng huǐ huài kě zēng de rú fēi ér lái , bìng qiě yǒu fèn nù qīng zài nà xíng huǐ huài de shēn shàng , zhí dào suǒ dìng de jié jú 。」

Người sẽ lập giao ước vững bền với nhiều người trong một tuần lễ, và đến giữ tuần ấy, người sẽ khiến của lễ và của lễ chay dứt đi. Kẻ hủy phá sẽ đến bởi cánh gớm ghiếc, và sẽ có sự giận dữ đổ trên nơi bị hoang vu, cho đến kỳ sau rốt, là kỳ đã định.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.