中文圣经

PHỤC TRUYỀN LUẬT LỆ 10

đã biết 0/222

:『

「 nà shí , yē hé huá fēn fù wǒ shuō :『 nǐ yào záo chū liǎng kuài shí bǎn , hé xiān qián de yí yàng , shàng shān dào wǒ zhè lǐ lái , yòu yào zuò yí mù guì 。

Trong lúc đó, Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hãy đục hai bảng đá như hai bảng trước, và hãy lên đến ta trên núi; ngươi cũng phải đóng một cái hòm bằng cây.

。』

nǐ xiān qián shuāi suì de nà bǎn , qí shàng de zì wǒ yào xiě zài zhè bǎn shàng ; nǐ yào jiāng zhè bǎn fàng zài guì zhōng 。』

Ta sẽ viết trên hai bảng nầy những lời đã có trên hai bảng trước mà ngươi đã đập bể, rồi để hai bảng nầy trong hòm.

yú shì wǒ yòng zào jiá mù zuò le yí guì , yòu záo chū liǎng kuài shí bǎn , hé xiān qián de yí yàng , shǒu lǐ ná zhè liǎng kuài bǎn shàng shān qù le 。

Vậy, ta đóng một cái hòm bằng cây si-tim, đục hai bảng đá, y như hai bảng trước, rồi đi lên trên núi, cầm hai bảng đó trong tay.

yē hé huá jiāng nà dà huì zhī rì 、 zài shān shàng cóng huǒ zhōng suǒ chuán yǔ nǐ men de shí tiáo jiè , zhào xiān qián suǒ xiě de , xiě zài zhè bǎn shàng , jiāng bǎn jiāo gěi wǒ le 。

Ngài viết trên hai bảng nầy lời Ngài đã viết lần trước, tức là mười điều răn mà Đức Giê-hô-va từ giữa lửa tại trên núi, có phán cùng các ngươi, trong ngày nhóm hiệp; rồi Đức Giê-hô-va trao cho ta.

。」 (

wǒ zhuǎn shēn xià shān , jiāng zhè bǎn fàng zài wǒ suǒ zuò de guì zhōng , xiàn jīn hái zài nà lǐ , zhèng rú yē hé huá suǒ fēn fù wǒ de 。」 (

Ta trở đi xuống núi, để hai bảng vào hòm mà ta đã đóng, và hai bảng ấy còn ở tại đó, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn ta vậy.

· 西

yǐ sè liè rén cóng bǐ luó bǐ ní · yà gān qǐ xíng , dào le mó xī lā 。 yà lún sǐ zài nà lǐ , jiù zàng zài nà lǐ 。 tā ér zi yǐ lì yà sā jiē xù tā gòng jì sī de zhí fēn 。

Vả, dân Y-sơ-ra-ên đi từ Bê-rốt Bê-nê-Gia-can đến Mô-sê-ra. A-rôn qua đời và được chôn tại đó; Ê-lê-a-sa, con trai người, làm chức tế lễ thế cho người.

tā men cóng nà lǐ qǐ xíng , dào le gǔ gē dà , yòu cóng gǔ gē dà dào le yǒu xī shuǐ zhī dì de yuē bā tā 。

Từ đó, dân Y-sơ-ra-ên đi đến Gút-gô-đa, rồi từ Gút-gô-đa đến Dốt-ba-tha, là xứ có nhiều sông rạch.

nà shí , yē hé huá jiāng lì wèi zhī pài fēn bié chū lái , tái yē hé huá de yuē guì , yòu shì lì zài yē hé huá miàn qián shì fèng tā , fèng tā de míng zhù fú , zhí dào jīn rì 。

Trong lúc ấy, Đức Giê-hô-va biệt chi phái Lê-vi riêng ra, đặng khiêng hòm giao ước của Đức Giê-hô-va, chầu chực trước mặt Đức Giê-hô-va, phục sự Ngài, và nhân danh Ngài chức phước, cho đến ngày nay.

suǒ yǐ lì wèi rén zài tā dì xiong zhōng wú fēn wú yè , yē hé huá shì tā de chǎn yè , zhèng rú yē hé huá — nǐ shén suǒ yīng xǔ tā de 。

Bởi cớ đó, Lê-vi không phần, không nghiệp với anh em mình; Đức Giê-hô-va là cơ nghiệp của ngươi y như Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã phán cùng người.

「 wǒ yòu xiàng cóng qián zài shān shàng zhù le sì shí zhòu yè 。 nà cì yē hé huá yě yīng yǔn wǒ , bù rěn jiāng nǐ miè jué 。

Vậy, ta ở trên núi trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm như lần đầu, và lần nầy Đức Giê-hô-va lại nhậm lời ta, bằng lòng không diệt ngươi.

:『使。』」

yē hé huá fēn fù wǒ shuō :『 nǐ qǐ lái yǐn dǎo zhè bǎi xìng , shǐ tā men jìn qù dé wǒ xiàng tā men liè zǔ qǐ shì yīng xǔ suǒ cì zhī dì 。』」

Nhưng Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hãy đứng dậy, đi đầu dân sự, đặng chúng nó vào nhận lấy xứ mà ta đã thề cùng tổ phụ chúng nó, để ban cho chúng nó.

「 yǐ sè liè a , xiàn zài yē hé huá — nǐ shén xiàng nǐ suǒ yào de shì shén me ne ? zhǐ yào nǐ jìng wèi yē hé huá — nǐ de shén , zūn xíng tā de dào , ài tā , jìn xīn jìn xìng shì fèng tā ,

Vậy, hỡi Y-sơ-ra-ên, bây giờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đòi ngươi điều chi? há chẳng phải đòi ngươi kính sợ Giê-hô-va, Đức Chúa Trời ngươi, đi theo các đạo Ngài, hết lòng hết ý kính mến và phục sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi,

zūn shǒu tā de jiè mìng lǜ lì , jiù shì wǒ jīn rì suǒ fēn fù nǐ de , wèi yào jiào nǐ dé fú 。

giữ các điều răn và luật lệ của Đức Giê-hô-va, mà ta truyền cho ngươi ngày nay, để ngươi được phước?

kàn nǎ , tiān hé tiān shàng de tiān , dì hé dì shàng suǒ yǒu de , dōu shǔ yē hé huá — nǐ de shén 。

Kìa, trời và các từng trời cao hơn trời, đất và mọi vật ở nơi đất đều thuộc về Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.

yē hé huá dàn xǐ yuè nǐ de liè zǔ , ài tā men , cóng wàn mín zhōng jiǎn xuǎn tā men de hòu yì , jiù shì nǐ men , xiàng jīn rì yí yàng 。

Chỉn Đức Giê-hô-va ưa-đẹp các tổ phụ ngươi và yêu mến; rồi trong muôn dân, Ngài đã chọn dòng dõi họ, tức là các ngươi, y như các ngươi thấy ngày nay.

suǒ yǐ nǐ men yào jiāng xīn lǐ de wū huì chú diào , bù kě zài yìng zhe jǐng xiàng 。

Vậy, hãy trừ sự ô uế của lòng mình đi, chớ cứng cổ nữa;

贿

yīn wèi yē hé huá — nǐ men de shén — tā shì wàn shén zhī shén , wàn zhǔ zhī zhǔ , zhì dà de shén , dà yǒu néng lì , dà ér kě wèi , bù yǐ mào qǔ rén , yě bú shòu huì lù 。

vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi là Đức Chúa Trời của các thần, và Chúa của các chúa, tức là Đức Chúa Trời rất lớn, có quyền năng và đáng sợ, không thiên vị ai, chẳng nhận của hối lộ,

tā wèi gū ér guǎ fù shēn yuān , yòu lián ài jì jū de , cì gěi tā yī shí 。

bào chữa công bình cho kẻ mồ côi và người góa bụa, thương người khách lạ, ban đồ ăn và áo xống cho người.

suǒ yǐ nǐ men yào lián ài jì jū de , yīn wèi nǐ men zài āi jí dì yě zuò guò jì jū de 。

Vậy, các ngươi phải thương người khách lạ, vì các ngươi đã làm khách trong xứ Ê-díp-tô.

nǐ yào jìng wèi yē hé huá — nǐ de shén , shì fèng tā , zhuān kào tā , yě yào zhǐ zhe tā de míng qǐ shì 。

Ngươi phải kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, phục sự Ngài, tríu mến Ngài, và chỉ danh Ngài mà thề.

tā shì nǐ suǒ zàn měi de , shì nǐ de shén , wèi nǐ zuò le nà dà ér kě wèi de shì , shì nǐ qīn yǎn suǒ kàn jiàn de 。

Aáy chính Ngài là sự vinh quang ngươi và là Đức Chúa Trời ngươi, Đấng đã làm những việc lớn lao và đáng kính nầy, mà mắt ngươi đã thấy.

使。」

nǐ de liè zǔ qī shí rén xià āi jí ; xiàn zài yē hé huá — nǐ de shén shǐ nǐ rú tóng tiān shàng de xīng nà yàng duō 。」

Khi tổ phụ ngươi xuống xứ Ê-díp-tô, số có bảy mươi người; còn bây giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã làm cho ngươi nhiều bằng số sao trên trời vậy.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.