中文圣经

PHỤC TRUYỀN LUẬT LỆ 9

đã biết 0/281

广

「 yǐ sè liè a , nǐ dāng tīng ! nǐ jīn rì yào guò yuē dàn hé , jìn qù gǎn chū bǐ nǐ qiáng dà de guó mín , dé zhe guǎng dà jiān gù 、 gāo dé dǐng tiān de chéng yì 。

Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe! ngày nay ngươi sẽ đi ngang qua sông Giô-đanh, đặng chiếm lấy các dân tộc lớn và mạnh hơn ngươi, những thành lớn và tường cao đến trời,

:『?』

nà mín shì yà nà zú de rén , yòu dà yòu gāo , shì nǐ suǒ zhī dào de ; yě céng tīng jiàn yǒu rén zhǐ zhe tā men shuō :『 shuí néng zài yà nà zú rén miàn qián zhàn lì dé zhù ne ?』

một dân to lớn và tác cao, là con cháu A-na-kim, mà ngươi đã biết, và có nghe nói rằng: “Ai sẽ đương địch nổi trước mặt con cháu A-nác?”

使

nǐ jīn rì dāng zhī dào , yē hé huá — nǐ de shén zài nǐ qián miàn guò qù , rú tóng liè huǒ , yào miè jué tā men , jiāng tā men zhì fú zài nǐ miàn qián 。 zhè yàng , nǐ jiù yào zhào yē hé huá suǒ shuō de gǎn chū tā men , shǐ tā men sù sù miè wáng 。

Vậy, ngày nay phải biết rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đi trước ngươi, như một đám lửa hừng, sẽ tiêu diệt và hạ xuống các dân nầy trước mặt ngươi; ngươi sẽ đuổi ra và diệt chúng nó cách mau, y như Đức Giê-hô-va đã phán cùng ngươi.

:『。』

「 yē hé huá — nǐ de shén jiāng zhè xiē guó mín cóng nǐ miàn qián niǎn chū yǐ hòu , nǐ xīn lǐ bù kě shuō :『 yē hé huá jiāng wǒ lǐng jìn lái de zhè dì shì yīn wǒ de yì 。』 qí shí , yē hé huá jiāng tā men cóng nǐ miàn qián gǎn chū qù shì yīn tā men de è 。

Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã đuổi chúng nó khỏi trước mặt ngươi, chớ nói trong lòng rằng: Aáy vì cớ sự công bình tôi mà Đức Giê-hô-va khiến tôi vào nhận lấy xứ nầy; thật là bởi gian ác của các dân tộc đó, nên Đức Giê-hô-va mới đuổi chúng nó ra khỏi trước mặt ngươi.

nǐ jìn qù dé tā men de dì , bìng bú shì yīn nǐ de yì , yě bú shì yīn nǐ xīn lǐ zhèng zhí , nǎi shì yīn zhè xiē guó mín de è , yē hé huá — nǐ de shén jiāng tā men cóng nǐ miàn qián gǎn chū qù , yòu yīn yē hé huá yào jiān dìng tā xiàng nǐ liè zǔ yà bó lā hǎn 、 yǐ sā 、 yǎ gè qǐ shì suǒ yīng xǔ de huà 。

Ngươi vào nhận lấy xứ của các dân tộc ấy, chẳng phải vì cớ sự công bình ngươi, hay là lòng chánh trực của ngươi đâu, nhưng vì cớ sự gian ác của chúng nó, nên Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ đuổi chúng nó ra khỏi trước mặt ngươi, để làm cho ứng nghiệm lời hứa Ngài đã thề cùng các tổ phụ ngươi, là Aùp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.

「 nǐ dāng zhī dào , yē hé huá — nǐ shén jiāng zhè měi dì cì nǐ wèi yè , bìng bú shì yīn nǐ de yì ; nǐ běn shì yìng zhe jǐng xiàng de bǎi xìng 。

Vậy, khá biết rằng chẳng phải vì cớ sự công bình ngươi mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi cho ngươi nhận lấy xứ tốt tươi nầy đâu; bởi ngươi vẫn là một dân cứng cổ.

nǐ dāng jì niàn bú wàng , nǐ zài kuàng yě zěn yàng rě yē hé huá — nǐ shén fā nù 。 zì cóng nǐ chū le āi jí dì de nà rì , zhí dào nǐ men lái dào zhè dì fāng , nǐ men shí cháng bèi nì yē hé huá 。

Hãy nhớ lại, chớ quên rằng, trong đồng vắng ngươi đã chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi. Từ ngày ra khỏi xứ Ê-díp-tô cho đến chốn nầy, ngươi thường phản nghịch cùng Đức Giê-hô-va.

nǐ men zài hé liè shān yòu rě yē hé huá fà nù ; tā nǎo nù nǐ men , yào miè jué nǐ men 。

Tại Hô-rếp, các ngươi cũng đã chọc giận Đức Giê-hô-va; nên Ngài nổi thạnh nộ toan diệt các ngươi.

wǒ shàng le shān , yào lǐng shòu liǎng kuài shí bǎn , jiù shì yē hé huá yǔ nǐ men lì yuē de bǎn 。 nà shí wǒ zài shān shàng zhù le sì shí zhòu yè , méi yǒu chī fàn , yě méi yǒu hē shuǐ 。

Khi ta đi lên núi đặng lãnh hai bảng đá, tức là hai bảng về sự giao ước mà Đức Giê-hô-va đã lập cùng các ngươi, ta ở trên núi bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, không ăn bánh, chẳng uống nước;

yē hé huá bǎ nà liǎng kuài shí bǎn jiāo gěi wǒ , shì shén yòng zhǐ tou xiě de 。 bǎn shàng suǒ xiě de shì zhào yē hé huá zài dà huì de rì zi 、 zài shān shàng 、 cóng huǒ zhōng duì nǐ men suǒ shuō de yí qiè huà 。

và Đức Giê-hô-va trao cho ta hai bảng đá, bởi ngón tay Đức Chúa Trời viết ra, có đủ những lời mà Đức Giê-hô-va từ giữa lửa, tại trên núi, có phán ra cùng các ngươi, trong ngày nhóm hiệp.

guò le sì shí zhòu yè , yē hé huá bǎ nà liǎng kuài shí bǎn , jiù shì yuē bǎn , jiāo gěi wǒ 。

Xảy khi bốn mươi ngày và bốn mươi đêm mãn rồi, Đức Giê-hô-va ban cho ta hai bảng đá, tức là hai bảng về sự giao ước.

:『。』

duì wǒ shuō :『 nǐ qǐ lái , gǎn kuài xià qù ! yīn wèi nǐ cóng āi jí lǐng chū lái de bǎi xìng yǐ jīng bài huài le zì jǐ ; tā men kuài kuài dì piān lí le wǒ suǒ fēn fù de dào , wèi zì jǐ zhù chéng le ǒu xiàng 。』

Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hãy đứng dậy, mau mau xuống khỏi đây, vì dân mà ngươi đem ra khỏi xứ Ê-díp-tô đã tự bại hoại, vội bỏ đạo của ta đã truyền cho, mà chế cho mình một tượng đúc.

:『

「 yē hé huá yòu duì wǒ shuō :『 wǒ kàn zhè bǎi xìng shì yìng zhe jǐng xiàng de bǎi xìng 。

Đức Giê-hô-va lại phán cùng ta rằng: Ta nhìn xem dân nầy, kìa là một dân cứng cổ.

使。』

nǐ qiě yóu zhe wǒ , wǒ yào miè jué tā men , jiāng tā men de míng cóng tiān xià tú mǒ , shǐ nǐ de hòu yì bǐ tā men chéng wéi gèng dà gèng qiáng de guó 。』

Hãy để mặc ta diệt chúng nó, và xóa tên chúng nó khỏi dưới trời, rồi ta sẽ làm cho ngươi thành một dân tộc mạnh và lớn hơn dân ấy.

yú shì wǒ zhuǎn shēn xià shān , shān bèi huǒ shāo zhe , liǎng kuài yuē bǎn zài wǒ liǎng shǒu zhī zhōng 。

Vậy, ta bèn xây lại đi xuống núi, cả núi vẫn có lửa cháy: hai tay ta cầm hai bảng đá về sự giao ước.

wǒ yí kàn jiàn nǐ men dé zuì le yē hé huá — nǐ men de shén , zhù chéng le niú dú , kuài kuài dì piān lí le yē hé huá suǒ fēn fù nǐ men de dào ,

Bấy giờ, ta nhìn xem, kìa các ngươi đã phạm tội cùng Giê-hô-va. Đức Chúa Trời các ngươi, rất vội bỏ đạo Ngài đã truyền cho, mà làm cho mình một con bò con đúc.

wǒ jiù bǎ nà liǎng kuài bǎn cóng wǒ shǒu zhōng rēng xià qù , zài nǐ men yǎn qián shuāi suì le 。

Ta bèn nắm hai bảng đá, liệng ra khỏi tay, đập bể trước mặt các ngươi.

yīn nǐ men suǒ fàn de yí qiè zuì , xíng le yē hé huá yǎn zhōng kàn wèi è de shì , rě tā fā nù , wǒ jiù xiàng cóng qián fǔ fú zài yē hé huá miàn qián sì shí zhòu yè , méi yǒu chī fàn , yě méi yǒu hē shuǐ 。

Đoạn, vì cớ các ngươi làm dữ, phạm tội trọng trước mặt Đức Giê-hô-va, chọc cho Ngài giận, nên ta lại sấp mình xuống trước mặt Đức Giê-hô-va, trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm như lần trước, không ăn bánh và chẳng uống nước.

wǒ yīn yē hé huá xiàng nǐ men dà fā liè nù , yào miè jué nǐ men , jiù shèn hài pà ; dàn nà cì yē hé huá yòu yīng yǔn le wǒ 。

Vì ta sợ cơn thạnh nộ và tức giận của Đức Giê-hô-va đã nổi phừng lên, đặng diệt các ngươi; nhưng Đức Giê-hô-va còn nhậm lời ta lần nầy nữa.

yē hé huá yě xiàng yà lún shèn shì fā nù , yào miè jué tā ; nà shí wǒ yòu wèi yà lún qí dǎo 。

Đức Giê-hô-va cũng nổi nóng phừng cùng A-rôn, đến đỗi muốn giết người; song ta cũng cầu nguyện cho A-rôn trong lúc đó.

wǒ bǎ nà jiào nǐ men fàn zuì suǒ zhù de niú dú yòng huǒ fén shāo , yòu dǎo suì mó dé hěn xì , yǐ zhì xì rú huī chén , wǒ jiù bǎ zhè huī chén sā zài cóng shān shàng liú xià lái de xī shuǐ zhōng 。

Đoạn, ta lấy vật tội lỗi của các ngươi, tức là con bò con mà các ngươi đã làm, đem đốt trong lửa, đập bể ra từng miếng, nghiền cho đến đỗi nó tan ra bụi, rồi đổ bụi ấy nơi khe ở trên núi chảy xuống.

·

「 nǐ men zài tā bèi lā 、 mǎ sā 、 jī bó luó · hā tā wǎ yòu rě yē hé huá fà nù 。

Các ngươi cũng có chọc giận Đức Giê-hô-va tại Tha-bê-ra, tại Ma-sa, và tại Kíp-rốt-Ha-tha-va.

·:『。』

yē hé huá dǎ fā nǐ men lí kāi jiā dī sī · bā ní yà , shuō :『 nǐ men shàng qù dé wǒ suǒ cì gěi nǐ men de dì 。』 nà shí nǐ men wéi bèi le yē hé huá — nǐ men shén de mìng lìng , bú xìn fú tā , bù tīng cóng tā de huà 。

Khi Đức Giê-hô-va sai các ngươi đi từ Ca-đe-Ba-nê-a, có dặn rằng: Hãy đi lên nhận lấy xứ ta ban cho các ngươi, thì các ngươi đã bội nghịch mạng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, không tin Ngài và không nghe theo tiếng Ngài.

zì cóng wǒ rèn shi nǐ men yǐ lái , nǐ men cháng cháng bèi nì yē hé huá 。

Từ ngày ta biết các ngươi cho đến bây giờ, các ngươi thường phản nghịch cùng Đức Giê-hô-va.

「 wǒ yīn yē hé huá shuō yào miè jué nǐ men , jiù zài yē hé huá miàn qián zhào jiù fǔ fú sì shí zhòu yè 。

Vậy, vì cớ Đức Giê-hô-va có phán rằng Ngài toan diệt các ngươi, nên ta cứ sấp mình xuống trước mặt Đức Giê-hô-va trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm,

:『

wǒ qí dǎo yē hé huá shuō :『 zhǔ yē hé huá a , qiú nǐ bú yào miè jué nǐ de bǎi xìng 。 tā men shì nǐ de chǎn yè , shì nǐ yòng dà lì jiù shú de , yòng dà néng cóng āi jí lǐng chū lái de 。

cầu khẩn Ngài mà rằng: Chúa Giê-hô-va ôi! xin chớ diệt dân sự của Chúa, là cơ nghiệp của Chúa, mà Chúa đã lấy sự oai nghiêm Ngài chuộc lại, và nhờ tay quyền năng rút ra khỏi xứ Ê-díp-tô.

qiú nǐ jì niàn nǐ de pú rén yà bó lā hǎn 、 yǐ sā 、 yǎ gè , bú yào xiǎng niàn zhè bǎi xìng de wán gěng 、 xié è 、 zuì guo ,

Xin hãy nhớ đến những tôi tớ của Chúa là Aùp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp, chớ chấp sự cứng lòng, hung dữ, và tội ác của dân nầy,

miǎn de nǐ lǐng wǒ men chū lái de nà dì zhī rén shuō , yē hé huá yīn wèi bù néng jiāng zhè bǎi xìng lǐng jìn tā suǒ yīng xǔ zhī dì , yòu yīn hèn tā men , suǒ yǐ lǐng tā men chū qù , yào zài kuàng yě shā tā men 。

e dân của xứ mà Chúa đã đem chúng tôi ra khỏi đó, nói rằng: Bởi vì Đức Giê-hô-va không thế đem dân ấy vào xứ Ngài đã hứa, và vì Ngài ghét chúng nó, nên dẫn chúng nó ra khỏi xứ đặng giết đi trong đồng vắng.

。』」

qí shí tā men shì nǐ de bǎi xìng , nǐ de chǎn yè , shì nǐ yòng dà néng hé shēn chū lái de bǎng bì lǐng chū lái de 。』」

Song chúng vốn là dân sự và cơ nghiệp của Chúa, mà Chúa đã dùng quyền năng lớn và cánh tay giơ thẳng ra, rút ra khỏi xứ Ê-díp-tô.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.