中文圣经

XUẤT AI-CẬP 17

đã biết 0/175

yǐ sè liè quán huì zhòng dōu zūn yē hé huá de fēn fù , àn zhe zhàn kǒu cóng xùn de kuàng yě wǎng qián xíng , zài lì fēi dìng ān yíng 。 bǎi xìng méi yǒu shuǐ hē ,

Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đi từ đồng vắng Sin, đi từng trạm, tùy theo lịnh Đức Giê-hô-va, đóng trại tại Rê-phi-đim; ở đó chẳng có nước cho dân sự uống.

西:「!」西:「?」

suǒ yǐ yǔ mó xī zhēng nào , shuō :「 gěi wǒ men shuǐ hē ba !」 mó xī duì tā men shuō :「 nǐ men wèi shén me yǔ wǒ zhēng nào ? wèi shén me shì tàn yē hé huá ne ?」

Dân sự bèn kiếm cớ cãi lộn cùng Môi-se mà rằng: Hãy cho chúng tôi nước uống. Môi-se đáp rằng: Sao các ngươi kiếm cớ cãi lộn cùng ta? Sao ướm thử Đức Giê-hô-va vậy?

西:「使?」

bǎi xìng zài nà lǐ shèn kě , yào hē shuǐ , jiù xiàng mó xī fā yuàn yán , shuō :「 nǐ wèi shén me jiāng wǒ men cóng āi jí lǐng chū lái , shǐ wǒ men hé wǒ men de ér nǚ bìng shēng chù dōu kě sǐ ne ?」

Dân sự ở đó không có nước, bị khát, nên oán trách Môi-se mà rằng: Sao người khiến chúng tôi ra xứ Ê-díp-tô, hầu cho chúng tôi, con và các bầy súc vật phải chịu chết khát thế nầy?

西:「。」

mó xī jiù hū qiú yē hé huá shuō :「 wǒ xiàng zhè bǎi xìng zěn yàng xíng ne ? tā men jī hū yào ná shí tou dǎ sǐ wǒ 。」

Môi-se bèn kêu cầu Đức Giê-hô-va mà rằng: Tôi phải xử thế nào cùng dân nầy? Thiếu điều họ ném đá tôi!

西:「

yē hé huá duì mó xī shuō :「 nǐ shǒu lǐ ná zhe nǐ xiān qián jī dǎ hé shuǐ de zhàng , dài lǐng yǐ sè liè de jǐ gè zhǎng lǎo , cóng bǎi xìng miàn qián zǒu guò qù 。

Đức Giê-hô-va đáp cùng Môi-se rằng: Hãy cầm gậy của ngươi đã đập dưới sông, dẫn theo những trưởng lão Y-sơ-ra-ên, rồi đi trước mặt dân sự.

使。」西

wǒ bì zài hé liè de pán shí nà lǐ , zhàn zài nǐ miàn qián 。 nǐ yào jī dǎ pán shí , cóng pán shí lǐ bì yǒu shuǐ liú chū lái , shǐ bǎi xìng kě yǐ hē 。」 mó xī jiù zài yǐ sè liè de zhǎng lǎo yǎn qián zhè yàng xíng le 。

Nầy ta sẽ đứng đằng trước ngươi, ở trên hòn đá tại Hô-rếp kia, ngươi hãy đập hòn đá, thì nước từ đó chảy ra, dân sự sẽ uống lấy. Môi-se bèn làm như vậy trước mặt các trưởng lão Y-sơ-ra-ên.

:「?」

tā gěi nà dì fāng qǐ míng jiào mǎ sā , yòu jiào mǐ lì bā ; yīn yǐ sè liè rén zhēng nào , yòu yīn tā men shì tàn yē hé huá , shuō :「 yē hé huá shì zài wǒ men zhōng jiān bú shì ?」

Người đặt tên nơi nầy là Ma-sa và Mê-ri-ba, vì cớ việc cãi lộn mà dân Y-sơ-ra-ên kiếm cớ gây cùng người, và vì họ đã ướm thử Đức Giê-hô-va mà nói rằng: Có Đức Giê-hô-va ở giữa chúng ta hay chăng?

nà shí , yà mǎ lì rén lái zài lì fēi dìng , hé yǐ sè liè rén zhēng zhàn 。

Vả, khi đó, dân A-ma-léc đến khêu chiến cùng Y-sơ-ra-ên tại Rê-phi-đim.

西:「 。」

mó xī duì yuē shū yà shuō :「 nǐ wèi wǒ men xuǎn chū rén lái , chū qù hé yà mǎ lì rén zhēng zhàn 。 míng tiān wǒ shǒu lǐ yào ná zhe shén de zhàng , zhàn zài shān dǐng shàng 。」

Môi-se bèn nói cùng Giô-suê rằng: Hãy chọn lấy tráng sĩ cho chúng ta, ra chiến đấu cùng dân A-ma-léc; ngày mai ta sẽ đứng nơi đầu nổng, cầm gậy của Đức Chúa Trời trong tay.

西西

yú shì yuē shū yà zhào zhe mó xī duì tā suǒ shuō de huà xíng , hé yà mǎ lì rén zhēng zhàn 。 mó xī 、 yà lún , yǔ hù ěr dōu shàng le shān dǐng 。

Giô-suê bèn làm y như lời Môi-se nói, để cự chiến dân A-ma-léc; còn Môi-se, A-rôn và Hu-rơ lên trên đầu nổng.

西

mó xī hé shí jǔ shǒu , yǐ sè liè rén jiù dé shèng , hé shí chuí shǒu , yà mǎ lì rén jiù dé shèng 。

Vả, hễ đang khi Môi-se giơ tay lên, thì dân Y-sơ-ra-ên thắng hơn; nhưng khi người xụi tay xuống, dân A-ma-léc lại thắng hơn.

西

dàn mó xī de shǒu fā chén , tā men jiù bān shí tou lái , fàng zài tā yǐ xià , tā jiù zuò zài shàng miàn 。 yà lún yǔ hù ěr fú zhe tā de shǒu , yí gè zài zhè biān , yí gè zài nà biān , tā de shǒu jiù wěn zhù , zhí dào rì luò de shí hòu 。

Tay Môi-se mỏi, A-rôn và Hu-rơ bèn lấy đá kê cho người ngồi, rồi ở hai bên đỡ tay người lên; tay người chẳng lay động cho đến khi mặt trời lặn.

yuē shū yà yòng dāo shā le yà mǎ lì wáng hé tā de bǎi xìng 。

Giô-suê lấy lưỡi gươm đánh bại A-ma-léc và dân sự người.

西:「。」

yē hé huá duì mó xī shuō :「 wǒ yào jiāng yà mǎ lì de míng hào cóng tiān xià quán rán tú mǒ le ; nǐ yào jiāng zhè huà xiě zài shū shàng zuò jì niàn , yòu niàn gěi yuē shū yà tīng 。」

Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy chép điều nầy trong sách làm kỷ niệm, và hãy nói cho Giô-suê biết rằng ta sẽ bôi sạch kỷ niệm về A-ma-léc trong thiên hạ.

西西」 ,

mó xī zhù le yí zuò tán , qǐ míng jiào 「 yē hé huá ní xī 」 ,

Môi-se lập lên một bàn thờ, đặt tên là “Giê-hô-va cờ xí của tôi”;

:「。」

yòu shuō :「 yē hé huá yǐ jīng qǐ le shì , bì shì shì dài dài hé yà mǎ lì rén zhēng zhàn 。」

và nói rằng: Bởi vì A-ma-léc có giơ tay lên nghịch cùng ngôi Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va chinh chiến với A-ma-léc từ đời nầy qua đời kia.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.