中文圣经

XUẤT AI-CẬP 24

đã biết 0/164

西:「

yē hé huá duì mó xī shuō :「 nǐ hé yà lún 、 ná dá 、 yà bǐ hù , bìng yǐ sè liè zhǎng lǎo zhōng de qī shí rén , dōu yào shàng dào wǒ zhè lǐ lái , yuǎn yuǎn dì xià bài 。

Đức Chúa Trời phán cùng Môi-se rằng: Ngươi và A-rôn, Na-đáp, và A-bi-hu cùng bảy mươi trưởng lão Y-sơ-ra-ên hãy lên cùng Đức Giê-hô-va ở đằng xa mà lạy.

。」

wéi dú nǐ kě yǐ qīn jìn yē hé huá ; tā men què bù kě qīn jìn ; bǎi xìng yě bù kě hé nǐ yì tóng shàng lái 。」

Chỉ một mình Môi-se sẽ đến gần Đức Giê-hô-va mà thôi, còn họ không đến gần, và dân sự cũng không lên cùng người.

西:「。」

mó xī xià shān , jiāng yē hé huá de mìng lìng diǎn zhāng dōu shù shuō yǔ bǎi xìng tīng 。 zhòng bǎi xìng qí shēng shuō :「 yē hé huá suǒ fēn fù de , wǒ men dōu bì zūn xíng 。」

Môi-se bèn đến thuật lại cho dân sự mọi lời phán của Đức Giê-hô-va và các luật lệ, thì chúng đồng thinh đáp rằng: Chúng tôi sẽ làm mọi lời Đức Giê-hô-va phán dạy.

西

mó xī jiāng yē hé huá de mìng lìng dōu xiě shàng 。 qīng zǎo qǐ lái , zài shān xià zhù yí zuò tán , àn yǐ sè liè shí èr zhī pài lì shí èr gēn zhù zi ,

Môi-se chép hết mọi lời của Đức Giê-hô-va; rồi dậy sớm, xây một bàn thờ nơi chân núi, dựng mười hai cây trụ chỉ về mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên.

yòu dǎ fā yǐ sè liè rén zhōng de shào nián rén qù xiàn fán jì , yòu xiàng yē hé huá xiàn niú wèi píng ān jì 。

Người sai kẻ trai trẻ của dân Y-sơ-ra-ên đi dâng của lễ thiêu và của lễ thù ân cho Đức Giê-hô-va bằng con bò tơ.

西

mó xī jiāng xuè yí bàn shèng zài pén zhōng , yí bàn sǎ zài tán shàng ;

Môi-se lấy phân nửa huyết đựng trong các chậu, còn phân nửa thì rưới trên bàn thờ.

:「。」

yòu jiāng yuē shū niàn gěi bǎi xìng tīng 。 tā men shuō :「 yē hé huá suǒ fēn fù de , wǒ men dōu bì zūn xíng 。」

Đoạn, người cầm quyển sách giao ước đọc cho dân sự nghe, thì dân sự nói rằng: Chúng tôi sẽ làm và vâng theo mọi lời Đức Giê-hô-va phán chỉ.

西:「。」

mó xī jiāng xuè sǎ zài bǎi xìng shēn shàng , shuō :「 nǐ kàn ! zhè shì lì yuē de xuè , shì yē hé huá àn zhè yí qiè huà yǔ nǐ men lì yuē de píng jù 。」

Môi-se bèn lấy huyết rưới trên mình dân sự mà nói rằng: Đây là huyết giao ước của Đức Giê-hô-va đã lập cùng các ngươi y theo mọi lời nầy.

西

mó xī 、 yà lún 、 ná dá 、 yà bǐ hù , bìng yǐ sè liè zhǎng lǎo zhōng de qī shí rén , dōu shàng le shān 。

Đoạn, Môi-se và A-rôn, Na-đáp và A-bi-hu cùng bảy mươi trưởng lão dân Y-sơ-ra-ên đều lên núi,

仿

tā men kàn jiàn yǐ sè liè de shén , tā jiǎo xià fǎng fú yǒu píng pù de lán bǎo shí , rú tóng tiān sè míng jìng 。

ngó thấy Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, dưới chân Ngài có một vật giống bích ngọc trong ngần, khác nào như sắc trời thanh-quang.

tā de shǒu bù jiā hài zài yǐ sè liè de zūn zhě shēn shàng 。 tā men guān kàn shén ; tā men yòu chī yòu hē 。

Ngài chẳng tra tay vào những người tôn trọng trong vòng dân Y-sơ-ra-ên; nhưng họ ngó thấy Đức Chúa Trời, thì ăn và uống.

西:「使。」

yē hé huá duì mó xī shuō :「 nǐ shàng shān dào wǒ zhè lǐ lái , zhù zài zhè lǐ , wǒ yào jiāng shí bǎn bìng wǒ suǒ xiě de lǜ fǎ hé jiè mìng cì gěi nǐ , shǐ nǐ kě yǐ jiào xùn bǎi xìng 。」

Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy lên núi, đến cùng ta và ở lại đó; ta sẽ ban cho ngươi bảng đá, luật pháp và các điều răn của ta đã chép đặng dạy dân sự.

西

mó xī hé tā de bāng shǒu yuē shū yà qǐ lái , shàng le shén de shān 。

Môi-se bèn chờ dậy cùng Giô-suê, kẻ hầu mình, rồi Môi-se đi lên núi Đức Chúa Trời.

西:「。」

mó xī duì cháng lǎo shuō :「 nǐ men zài zhè lǐ děng zhe , děng dào wǒ men zài huí lái , yǒu yà lún 、 hù ěr yǔ nǐ men tóng zài 。 fán yǒu zhēng sòng de , dōu kě yǐ jiù jìn tā men qù 。」

Người bèn nói cùng các trưởng lão rằng: Hãy đợi chúng tôi tại đây cho đến chừng nào trở về cùng các ngươi. Nầy, A-rôn và Hu-rơ ở lại cùng các ngươi, ai có việc chi hãy hỏi hai người đó.

西

mó xī shàng shān , yǒu yún cǎi bǎ shān zhē gài 。

Vậy, Môi-se lên núi, mây che phủ núi.

耀西西

yē hé huá de róng yào tíng yú xī nài shān ; yún cǎi zhē gài shān liù tiān , dì qī tiān tā cóng yún zhōng zhào mó xī 。

Sự vinh quang của Đức Giê-hô-va ở tại núi Si-na-i; trong sáu ngày mây phủ núi, qua ngày thứ bảy Đức Giê-hô-va ngự trong đám mây gọi Môi-se.

耀

yē hé huá de róng yào zài shān dǐng shàng , zài yǐ sè liè rén yǎn qián , xíng zhuàng rú liè huǒ 。

Cảnh trạng của sự vinh quang Đức Giê-hô-va nơi đỉnh núi, trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, khác nào như đám lửa hừng.

西

mó xī jìn rù yún zhōng shàng shān , zài shān shàng sì shí zhòu yè 。

Môi-se vào giữa đám mây, lên núi, ở tại đó trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.