中文圣经

XUẤT AI-CẬP 9

đã biết 0/244

西:「:『

yē hé huá fēn fù mó xī shuō :「 nǐ jìn qù jiàn fǎ lǎo , duì tā shuō :『 yē hé huá — xī bó lái rén de shén zhè yàng shuō : róng wǒ de bǎi xìng qù , hǎo shì fèng wǒ 。

Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy đi ra mắt Pha-ra-ôn mà tâu rằng: Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ, có phán như vầy: Hãy tha dân ta đi, đặng chúng nó hầu việc ta;

nǐ ruò bù kěn róng tā men qù , réng jiù qiáng liú tā men ,

vì nếu ngươi từ chối không tha đi, còn cầm lại nữa,

yē hé huá de shǒu jiā zài nǐ tián jiān de shēng chù shàng , jiù shì zài mǎ 、 lǘ 、 luò tuó 、 niú qún 、 yáng qún shàng , bì yǒu chóng chóng de wēn yì 。

nầy tay của Đức Giê-hô-va sẽ tra vào các súc vật của ngươi ngoài đồng, vào ngựa, lừa, lạc đà, bò và chiên: sẽ có dịch lệ rất lớn.

。』」

yē hé huá yào fēn bié yǐ sè liè de shēng chù hé āi jí de shēng chù , fán shǔ yǐ sè liè rén de , yí yàng dōu bù sǐ 。』」

Đức Giê-hô-va sẽ phân biệt súc vật của dân Y-sơ-ra-ên cùng súc vật của người Ê-díp-tô, sẽ chẳng có một con nào của dân Y-sơ-ra-ên bị chết.

:「。」

yē hé huá jiù dìng le shí hòu , shuō :「 míng tiān yē hé huá bì zài cǐ dì xíng zhè shì 。」

Đức Giê-hô-va định k” mà rằng: Đến mai, Đức Giê-hô-va sẽ làm sự đó tại trong xứ.

dì èr tiān , yē hé huá jiù xíng zhè shì 。 āi jí de shēng chù jī hū dōu sǐ le , zhǐ shì yǐ sè liè rén de shēng chù , yí gè dōu méi yǒu sǐ 。

Vừa đến mai, Đức Giê-hô-va làm sự đó, hết thảy súc vật của người Ê-díp-tô đều chết; nhưng của dân Y-sơ-ra-ên chẳng chết một con nào.

fǎ lǎo dǎ fā rén qù kàn , shuí zhī yǐ sè liè rén de shēng chù lián yí gè dōu méi yǒu sǐ 。 fǎ lǎo de xīn què shì gù zhí , bù róng bǎi xìng qù 。

Pha-ra-ôn sai người đi xét, thấy chẳng có một con súc vật nào của dân Y-sơ-ra-ên chết hết. Nhưng Pha-ra-ôn rắn lòng, chẳng cho dân sự đi.

西:「西

yē hé huá fēn fù mó xī 、 yà lún shuō :「 nǐ men qǔ jǐ pěng lú huī , mó xī yào zài fǎ lǎo miàn qián xiàng tiān yáng qǐ lái 。

Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se và A-rôn rằng: Hãy hốt tro trong lò đầy tay các ngươi, rồi tại trước mặt Pha-ra-ôn, Môi-se sẽ vải tro đó lên trời.

。」

zhè huī yào zài āi jí quán dì biàn zuò chén tǔ , zài rén shēn shàng hé shēng chù shēn shàng chéng le qǐ pào de chuāng 。」

Tro sẽ hóa thành bụi khắp cả xứ Ê-díp-tô, và sanh nhiều ghẻ chốc cương mủ trên mình người và súc vật trong khắp cả xứ Ê-díp-tô.

西西

mó xī 、 yà lún qǔ le lú huī , zhàn zài fǎ lǎo miàn qián 。 mó xī xiàng tiān yáng qǐ lái , jiù zài rén shēn shàng hé shēng chù shēn shàng chéng le qǐ pào de chuāng 。

Vậy, hai người hốt tro trong lò, đứng trước mặt Pha-ra-ôn, rồi Môi-se vải tro lên trời, thì sanh ra ghẻ chốc cương mủ trên mình người ta và súc vật.

西

xíng fǎ shù de zài mó xī miàn qián zhàn lì bú zhù , yīn wèi zài tā men shēn shàng hé yí qiè āi jí rén shēn shàng dōu yǒu zhè chuāng 。

Các thuật sĩ đứng trước mặt Môi-se không được, vì cớ ghẻ chốc đã sanh trên mình các thuật sĩ như trên mình của hết thảy người Ê-díp-tô.

使西

yē hé huá shǐ fǎ lǎo de xīn gāng yìng , bù tīng tā men , zhèng rú yē hé huá duì mó xī suǒ shuō de 。

Đức Giê-hô-va làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng, không nghe Môi-se và A-rôn chút nào, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán cùng Môi-se.

西:「:『

yē hé huá duì mó xī shuō :「 nǐ qīng zǎo qǐ lái , zhàn zài fǎ lǎo miàn qián , duì tā shuō :『 yē hé huá — xī bó lái rén de shén zhè yàng shuō : róng wǒ de bǎi xìng qù , hǎo shì fèng wǒ 。

Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Ngươi hãy thức dậy sớm, ra mắt Pha-ra-ôn mà tâu rằng: Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ, có phán như vầy: Hãy tha dân ta đi, để chúng nó hầu việc ta;

yīn wèi zhè yí cì wǒ yào jiào yí qiè de zāi yāng lín dào nǐ hé nǐ chén pú bìng nǐ bǎi xìng de shēn shàng , jiào nǐ zhī dào zài pǔ tiān xià méi yǒu xiàng wǒ de 。

vì lần nầy ta sẽ giáng các tai nạn cho lòng ngươi, quần thần, và dân sự ngươi, hầu cho ngươi biết rằng khắp thế gian chẳng có ai bằng ta.

wǒ ruò shēn shǒu yòng wēn yì gōng jī nǐ hé nǐ de bǎi xìng , nǐ zǎo jiù cóng dì shàng chú miè le 。

Nếu bây giờ, ta đã giơ tay ra hành hại ngươi bịnh dịch, thì ngươi cùng dân ngươi đều đã bị diệt khỏi đất rồi.

使

qí shí , wǒ jiào nǐ cún lì , shì tè yào xiàng nǐ xiǎn wǒ de dà néng , bìng yào shǐ wǒ de míng chuán biàn tiān xià 。

Nhưng vì cớ nầy ta để ngươi còn sống, là cho ngươi thấy quyền năng của ta, hầu cho danh ta đồn khắp cả thiên hạ.

nǐ hái xiàng wǒ de bǎi xìng zì gāo , bù róng tā men qù ma ?

Nếu ngươi còn cản trở, không để cho dân ta đi,

dào míng tiān yuē zài zhè shí hòu , wǒ bì jiào zhòng dà de bīng báo jiàng xià , zì cóng āi jí kāi guó yǐ lái , méi yǒu zhè yàng de bīng báo 。

thì mai, tại giờ nầy, ta sẽ làm một đám mưa đá lớn, đến đỗi tại xứ Ê-díp-tô từ khi khai sáng cho đến ngày nay chẳng có đám mưa nào giống như vậy.

。』」

xiàn zài nǐ yào dǎ fā rén bǎ nǐ de shēng chù hé nǐ tián jiān yí qiè suǒ yǒu de cuī jìn lái ; fán zài tián jiān bù shōu huí jiā de , wú lùn shì rén shì shēng chù , bīng báo bì jiàng zài tā men shēn shàng , tā men jiù bì sǐ 。』」

Thế thì, bây giờ hãy sai đem lục súc và mọi vật thuộc về ngươi ở ngoài đồng vào, cho khỏi hiểm nghèo. Mưa đá sẽ rớt xuống trên mọi người và vật đang ở ngoài đồng không vào nhà, thì sẽ chết hết.

便

fǎ lǎo de chén pú zhōng , jù pà yē hé huá zhè huà de , biàn jiào tā de nú pú hé shēng chù pǎo jìn jiā lái 。

Những kẻ nào trong quần thần Pha-ra-ôn có lòng kính sợ lời Đức Giê-hô-va, lật đật rút đầy tớ và súc vật mình về nhà;

dàn nà bù bǎ yē hé huá zhè huà fàng zài xīn shàng de , jiù jiāng tā de nú pú hé shēng chù liú zài tián lǐ 。

còn kẻ nào chẳng chú ý về lời Đức Giê-hô-va, thì để đầy tớ và súc vật mình ở ngoài đồng.

西:「使。」

yē hé huá duì mó xī shuō :「 nǐ xiàng tiān shēn zhàng , shǐ āi jí biàn dì de rén shēn shàng hé shēng chù shēn shàng , bìng tián jiān gè yàng cài shū shàng , dōu yǒu bīng báo 。」

Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy giơ tay ngươi lên trời, làm mưa đá rớt xuống trên cả xứ Ê-díp-tô, trên mình người, súc vật, và khắp rau cỏ ngoài đồng.

西

mó xī xiàng tiān shēn zhàng , yē hé huá jiù dǎ léi xià báo , yǒu huǒ shǎn dào dì shàng ; yē hé huá xià báo zài āi jí dì shàng 。

Môi-se bèn giơ gậy mình lên trời, Đức Giê-hô-va làm cho sấm động, mưa đá sa, lửa chạy trên mặt đất. Vậy, Đức Giê-hô-va khiến mưa đá sa trên xứ Ê-díp-tô.

nà shí , báo yǔ huǒ chān zá , shèn shì lì hài , zì cóng āi jí chéng guó yǐ lái , biàn dì méi yǒu zhè yàng de 。

Vả, có mưa đá sa xuống và lửa cháy rất mạnh pha lộn với, đến nỗi từ khi xứ Ê-díp-tô lập quốc đến giờ, chẳng có giống như vậy.

zài āi jí biàn dì , báo jī dǎ le tián jiān suǒ yǒu de rén hé shēng chù , bìng yí qiè de cài shū , yòu dǎ huài tián jiān yí qiè de shù mù 。

Thế thì, trong cả xứ Ê-díp-tô, mưa đá làm hại mọi vật ở ngoài đồng, nào người ta, nào súc vật, nào rau-cỏ, và làm gãy cây cối nữa.

wéi dú yǐ sè liè rén suǒ zhù de gē shān dì méi yǒu bīng báo 。

Chỉ đất Gô-sen, là nơi dân Y-sơ-ra-ên ở, chẳng có mưa đá mà thôi.

西:「

fǎ lǎo dǎ fā rén zhào mó xī 、 yà lún lái , duì tā men shuō :「 zhè yí cì wǒ fàn le zuì le 。 yē hé huá shì gōng yì de ; wǒ hé wǒ de bǎi xìng shì xié è de 。

Pha-ra-ôn bèn truyền đòi Môi-se và A-rôn mà phán rằng: Lần nầy trẫm đã phạm tội; Đức Giê-hô-va là công bình; trẫm cùng dân sự trẫm là kẻ phạm tội.

。」

zhè léi hōng hé bīng báo yǐ jīng gòu le 。 qǐng nǐ men qiú yē hé huá , wǒ jiù róng nǐ men qù , bú zài liú zhù nǐ men 。」

Hãy cầu nguyện Đức Giê-hô-va, hầu cho tan sấm sét và mưa đá; rồi trẫm sẽ tha các ngươi đi, không đợi lâu nữa đâu.

西:「

mó xī duì tā shuō :「 wǒ yì chū chéng , jiù yào xiàng yē hé huá jǔ shǒu dǎo gào ; léi bì zhǐ zhù , yě bú zài yǒu bīng báo , jiào nǐ zhī dào quán dì dōu shì shǔ yē hé huá de 。

Môi-se bèn đáp rằng: Vừa khi tôi ra khỏi thành, tôi sẽ giơ tay lên Đức Giê-hô-va, sấm sét sẽ lặng, mưa đá sẽ tan, hầu cho bệ hạ biết rằng trái đất thuộc về Đức Giê-hô-va.

。」(

zhì yú nǐ hé nǐ de chén pú , wǒ zhī dào nǐ men hái shì bú jù pà yē hé huá shén 。」(

Nhưng tôi biết rằng bệ hạ và quần thần chưa kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời.

nà shí , má hé dà mài bèi báo jī dǎ ; yīn wèi dà mài yǐ jīng tǔ suì , má yě kāi le huā 。

Vả, trong lúc đó, lúa mạch trổ bông, cây gai có hoa, nên lúa mạch và gai bị đập nát;

。)

zhǐ shì xiǎo mài hé cū mài méi yǒu bèi jī dǎ , yīn wèi hái méi yǒu cháng chéng 。)

còn lúa mì và tiểu mạch trổ muộn, nên không bị đập.

西

mó xī lí le fǎ lǎo chū chéng , xiàng yē hé huá jǔ shǒu dǎo gào ; léi hé báo jiù zhǐ zhù , yǔ yě bú zài jiāo zài dì shàng le 。

Vậy, Môi-se lui khỏi Pha-ra-ôn, đi ra thành, giơ tay lên Đức Giê-hô-va, sấm sét và mưa đá tạnh, mưa bèn ngớt hột trên mặt đất.

fǎ lǎo jiàn yǔ hé báo yǔ léi zhǐ zhù , jiù yuè fā fàn zuì ; tā hé tā de chén pú dōu yìng zhe xīn 。

Khi Pha-ra-ôn thấy mưa, mưa đá và sấm sét đã tạnh rồi, người và quần thần lại rắn lòng, cứ phạm tội nữa.

西

fǎ lǎo de xīn gāng yìng , bù róng yǐ sè liè rén qù , zhèng rú yē hé huá jiè zhe mó xī suǒ shuō de 。

Vậy Pha-ra-ôn cứng lòng, không tha dân Y-sơ-ra-ên đi, y như lời Đức Giê-hô-va đã cậy Môi-se mà phán.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.