中文圣经

XUẤT AI-CẬP 8

đã biết 0/211

西:「:『

yē hé huá fēn fù mó xī shuō :「 nǐ jìn qù jiàn fǎ lǎo , duì tā shuō :『 yē hé huá zhè yàng shuō : róng wǒ de bǎi xìng qù , hǎo shì fèng wǒ 。

Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy đi ra mắt Pha-ra-ôn, và tâu cùng người rằng: Đức Giê-hô-va có phán như vầy: Hãy tha cho dân ta đi, để chúng nó hầu việc ta.

使

nǐ ruò bù kěn róng tā men qù , wǒ bì shǐ qīng wā zāo tà nǐ de sì jìng 。

Nếu ngươi không tha cho đi, nầy ta sẽ giáng tai nạn ếch nhái khắp bờ cõi ngươi.

殿

hé lǐ yào zī shēng qīng wā ; zhè qīng wā yào shàng lái jìn nǐ de gōng diàn hé nǐ de wò fáng , shàng nǐ de chuáng tà , jìn nǐ chén pú de fáng wū , shàng nǐ bǎi xìng de shēn shàng , jìn nǐ de lú zào hé nǐ de tuán miàn pén ,

Sông sẽ sanh đông đúc ếch nhái, bò lên vào cung điện, phòng ngủ, và trên giường ngươi, vào nhà đầy tớ và dân sự ngươi, trong lò bếp, cùng nơi nhồi bột làm bánh của ngươi.

。』」

yòu yào shàng nǐ hé nǐ bǎi xìng bìng nǐ zhòng chén pú de shēn shàng 。』」

Eách nhái sẽ bò lên mình ngươi, lên mình dân sự và mọi đầy tớ ngươi.

西:「:『使。』」

yē hé huá xiǎo yù mó xī shuō :「 nǐ duì yà lún shuō :『 bǎ nǐ de zhàng shēn zài jiāng 、 hé 、 chí yǐ shàng , shǐ qīng wā dào āi jí dì shàng lái 。』」

Vậy, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy truyền cho A-rôn rằng: Hãy cầm gậy giơ tay ra trên rạch, trên sông và trên bàu, khiến ếch nhái tràn lên xứ Ê-díp-tô.

便

yà lún biàn shēn zhàng zài āi jí de zhū shuǐ yǐ shàng , qīng wā jiù shàng lái , zhē mǎn le āi jí dì 。

A-rôn giơ tay mình trên các sông rạch xứ Ê-díp-tô, ếch nhái bò lên lan khắp xứ.

xíng fǎ shù de yě yòng tā men de xié shù zhào yàng ér xíng , jiào qīng wā shàng le āi jí dì 。

Các thuật sĩ cũng cậy phù chú mình làm y như vậy, đặng khiến ếch nhái bò lên xứ Ê-díp-tô.

西:「使。」

fǎ lǎo zhào le mó xī 、 yà lún lái , shuō :「 qǐng nǐ men qiú yē hé huá shǐ zhè qīng wā lí kāi wǒ hé wǒ de mín , wǒ jiù róng bǎi xìng qù jì sì yē hé huá 。」

Pha-ra-ôn bèn đòi Môi-se và A-rôn mà phán rằng: Hãy cầu nguyện Đức Giê-hô-va, để Ngài khiến ếch nhái cách xa ta và dân sự ta; thì ta sẽ tha dân Hê-bơ-rơ đi tế Đức Giê-hô-va.

西:「殿?」

mó xī duì fǎ lǎo shuō :「 rèn píng nǐ ba , wǒ yào hé shí wèi nǐ hé nǐ de chén pú bìng nǐ de bǎi xìng qí qiú , chú miè qīng wā lí kāi nǐ hé nǐ de gōng diàn zhī liú zài hé lǐ ne ?」

Môi-se bèn tâu cùng Pha-ra-ôn rằng: Xin hãy định chừng nào tôi phải vì bệ hạ, đầy tớ cùng dân sự bệ hạ mà cầu khẩn Đức Giê-hô-va, để trừ ếch nhái lìa khỏi bệ hạ và cung điện, chỉ còn dưới sông mà thôi.

:「。」西:「

tā shuō :「 míng tiān 。」 mó xī shuō :「 kě yǐ zhào nǐ de huà ba , hǎo jiào nǐ zhī dào méi yǒu xiàng yē hé huá — wǒ men shén de 。

Vua đáp rằng: Đến ngày mai. Môi-se rằng: Sẽ làm y theo lời, hầu cho bệ hạ biết rằng chẳng có ai giống như Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chúng tôi.

殿。」

qīng wā yào lí kāi nǐ hé nǐ de gōng diàn , bìng nǐ de chén pú yǔ nǐ de bǎi xìng , zhī liú zài hé lǐ 。」

Vậy, ếch nhái sẽ lìa xa bệ hạ, cung điện, tôi tớ, cùng dân sự của bệ hạ; chỉ còn lại dưới sông mà thôi.

西西

yú shì mó xī 、 yà lún lí kāi fǎ lǎo chū qù 。 mó xī wèi rǎo hài fǎ lǎo de qīng wā hū qiú yē hé huá 。

Môi-se và A-rôn bèn lui ra khỏi Pha-ra-ôn; Môi-se kêu cầu Đức Giê-hô-va về việc ếch nhái mà Ngài đã khiến đến cho Pha-ra-ôn.

西

yē hé huá jiù zhào mó xī de huà xíng 。 fán zài fáng lǐ 、 yuàn zhōng 、 tián jiān de qīng wā dōu sǐ le 。

Đức Giê-hô-va làm y theo lời Môi-se; ếch nhái trong nhà, trong làng, ngoài đồng đều chết hết.

zhòng rén bǎ qīng wā jù lǒng chéng duī , biàn dì jiù dōu xīng chòu 。

Người ta dồn ếch nhái lại từ đống, và cả xứ hôi thúi lắm.

dàn fǎ lǎo jiàn zāi huò sōng huǎn , jiù yìng zhe xīn , bù kěn tīng tā men , zhèng rú yē hé huá suǒ shuō de 。

Nhưng Pha-ra-ôn thấy được khỏi nạn, bèn rắn lòng, chẳng nghe Môi-se và A-rôn chút nào, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán.

西:「:『使 。』」

yē hé huá fēn fù mó xī shuō :「 nǐ duì yà lún shuō :『 shēn chū nǐ de zhàng jī dǎ dì shàng de chén tǔ , shǐ chén tǔ zài āi jí biàn dì biàn zuò shī zi 。』」

Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy truyền cho A-rôn rằng: Hãy giơ gậy anh ra, đập bụi trên đất: bụi sẽ hóa muỗi khắp cả xứ Ê-díp-tô.

tā men jiù zhè yàng xíng 。 yà lún shēn zhàng jī dǎ dì shàng de chén tǔ , jiù zài rén shēn shàng hé shēng chù shēn shàng yǒu le shī zi ; āi jí biàn dì de chén tǔ dōu biàn chéng shī zi le 。

Hai người làm y như vậy. A-rôn cầm gậy giơ tay ra, đập bụi trên đất, bụi liền hóa thành muỗi, bu người và súc vật; hết thảy bụi đều hóa thành muỗi trong xứ Ê-díp-tô.

xíng fǎ shù de yě yòng xié shù yào shēng chū shī zǐ lái , què shì bù néng 。 yú shì zài rén shēn shàng hé shēng chù shēn shàng dōu yǒu le shī zi 。

Các thuật sĩ cũng muốn cậy phù chú mình làm như vậy, để hóa sanh muỗi, nhưng làm chẳng đặng. Vậy, muỗi bu người và súc vật.

:「 。」西

xíng fǎ shù de jiù duì fǎ lǎo shuō :「 zhè shì shén de shǒu duàn 。」 fǎ lǎo xīn lǐ gāng yìng , bù kěn tīng mó xī 、 yà lún , zhèng rú yē hé huá suǒ shuō de 。

Các thuật sĩ bèn tâu cùng Pha-ra-ôn rằng: Aáy là ngón tay của Đức Chúa Trời; nhưng Pha-ra-ôn cứng lòng, chẳng nghe Môi-se và A-rôn chút nào, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán.

西:「:『

yē hé huá duì mó xī shuō :「 nǐ qīng zǎo qǐ lái , fǎ lǎo lái dào shuǐ biān , nǐ zhàn zài tā miàn qián , duì tā shuō :『 yē hé huá zhè yàng shuō : róng wǒ de bǎi xìng qù , hǎo shì fèng wǒ 。

Kế đó, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Nầy Pha-ra-ôn sẽ ngự ra mé sông, ngươi hãy dậy sớm, đi ra mắt người, mà tâu rằng: Đức Giê-hô-va có phán như vầy: Hãy tha cho dân ta đi, để chúng nó hầu việc ta.

nǐ ruò bù róng wǒ de bǎi xìng qù , wǒ yào jiào chéng qún de cāng yíng dào nǐ hé nǐ chén pú bìng nǐ bǎi xìng de shēn shàng , jìn nǐ de fáng wū , bìng qiě āi jí rén de fáng wū hé tā men suǒ zhù de dì dōu yào mǎn le chéng qún de cāng yíng 。

Vì nếu ngươi không cho đi, nầy, ta sẽ sai ruồi mòng bu nơi ngươi, quần thần, dân sự và cung điện ngươi; nhà của người Ê-díp-tô đều sẽ bị ruồi mòng bu đầy, và khắp trên đất nữa.

使

dāng nà rì , wǒ bì fēn bié wǒ bǎi xìng suǒ zhù de gē shān dì , shǐ nà lǐ méi yǒu chéng qún de cāng yíng , hǎo jiào nǐ zhī dào wǒ shì tiān xià de yē hé huá 。

Nhưng ngày đó, ta sẽ phân biệt xứ Gô-sen ra, là nơi dân ta ở, không có ruồi mòng, hầu cho ngươi biết rằng ta, Giê-hô-va, có ở giữa xứ.

。』」

wǒ yào jiāng wǒ de bǎi xìng hé nǐ de bǎi xìng fēn bié chū lái 。 míng tiān bì yǒu zhè shén jì 。』」

Ta sẽ phân biệt dân ta cùng dân ngươi. Đến mai, dấu lạ nầy tất sẽ có.

殿

yē hé huá jiù zhè yàng xíng 。 cāng yíng chéng le dà qún , jìn rù fǎ lǎo de gōng diàn , hé tā chén pú de fáng wū ; āi jí biàn dì jiù yīn zhè chéng qún de cāng yíng bài huài le 。

Đức Giê-hô-va bèn làm y như lời. Vậy, trong cung điện Pha-ra-ôn, nhà cửa của quần thần người cùng cả xứ Ê-díp-tô đều có ruồi mòng vô số, đất bị ruồi mòng hủy hoại.

西:「 !」

fǎ lǎo zhào le mó xī 、 yà lún lái , shuō :「 nǐ men qù , zài zhè dì jì sì nǐ men de shén ba !」

Pha-ra-ôn bèn đòi Môi-se và A-rôn mà phán rằng: Hãy đi dâng tế lễ cho Đức Chúa Trời các ngươi trong xứ.

西:「

mó xī shuō :「 zhè yàng xíng běn bù xiāng yí , yīn wèi wǒ men yào bǎ āi jí rén suǒ yàn wù de jì sì yē hé huá — wǒ men de shén ; ruò bǎ āi jí rén suǒ yàn wù de zài tā men yǎn qián xiàn wèi jì , tā men qǐ bù ná shí tou dǎ sǐ wǒ men ma ?

Nhưng Môi-se tâu rằng: Làm như vậy chẳng tiện, vì các của lễ mà chúng tôi sẽ tế Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, là một điều gớm ghê cho người Ê-díp-tô. Nếu chúng tôi dâng của lễ gớm ghê trước mắt người Ê-díp-tô, họ há chẳng liệng đá chúng tôi sao?

。」

wǒ men yào wǎng kuàng yě qù , zǒu sān tiān de lù chéng , zhào zhe yē hé huá — wǒ men shén suǒ yào fēn fù wǒ men de jì sì tā 。」

Chúng tôi sẽ đi trong đồng vắng, chừng ba ngày đường, dâng tế lễ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, y như lời Ngài sẽ chỉ bảo.

:「 。」

fǎ lǎo shuō :「 wǒ róng nǐ men qù , zài kuàng yě jì sì yē hé huá — nǐ men de shén ; zhǐ shì bú yào zǒu dé hěn yuǎn 。 qiú nǐ men wèi wǒ qí dǎo 。」

Pha-ra-ôn bèn phán rằng: Ta sẽ tha các ngươi đi dâng tế lễ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, ở nơi đồng vắng, nhưng đừng đi xa hơn. Hãy cầu nguyện cho ta với!

西:「使。」

mó xī shuō :「 wǒ yào chū qù qiú yē hé huá , shǐ chéng qún de cāng yíng míng tiān lí kāi fǎ lǎo hé fǎ lǎo de chén pú bìng fǎ lǎo de bǎi xìng ; fǎ lǎo què bù kě zài xíng guǐ zhà , bù róng bǎi xìng qù jì sì yē hé huá 。」

Môi-se tâu rằng: Nầy, tôi sẽ lui ra khỏi bệ hạ, cầu nguyện Đức Giê-hô-va cho; ngày mai ruồi mòng sẽ lìa xa Pha-ra-ôn, quần thần, và dân sự người. Nhưng xin Pha-ra-ôn chớ cứ gạt chúng tôi mà không tha dân sự đi dâng tế lễ cho Đức Giê-hô-va.

西

yú shì mó xī lí kāi fǎ lǎo qù qiú yē hé huá 。

Môi-se bèn lui ra khỏi Pha-ra-ôn, và cầu nguyện Đức Giê-hô-va;

西

yē hé huá jiù zhào mó xī de huà xíng , jiào chéng qún de cāng yíng lí kāi fǎ lǎo hé tā de chén pú bìng tā de bǎi xìng , yí gè yě méi yǒu liú xià 。

Ngài làm y như lời Môi-se, ruồi mòng lìa xa Pha-ra-ôn, quần thần, và dân sự người, không còn lại một con nào.

zhè yí cì fǎ lǎo yòu yìng zhe xīn , bù róng bǎi xìng qù 。

Nhưng lần nầy, Pha-ra-ôn lại cứng lòng nữa, không cho dân sự đi.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.