中文圣经

E-XƠ-RA 8

đã biết 0/321

西

dāng yà dá xuē xī wáng nián jiān , tóng wǒ cóng bā bǐ lún shàng lái de rén , tā men de zú zhǎng hé tā men de jiā pǔ jì zài xià miàn :

Nầy những trưởng tộc và gia phổ của các ngươi từ Ba-by-lôn đi lên với ta, trong đời vua Aït-ta-xét-xe trị vì.

shǔ fēi ní hā de zǐ sūn yǒu gé shùn ; shǔ yǐ tā mǎ de zǐ sūn yǒu dàn yǐ lǐ ; shǔ dà wèi de zǐ sūn yǒu hā tū ;

Về con cháu Phi-nê-a có Ghẹt-sôn; về con cháu Y-tha-ma có Đa-ni-ên; về con cháu Đa-vít có Hát-túc;

shǔ bā lù de hòu yì , jiù shì shì jiā ní de zǐ sūn yǒu sā jiā lì yà , tóng zhe tā , àn jiā pǔ jì suàn , nán dīng yì bǎi wǔ shí rén ;

về con cháu Sê-ca-nia, con cháu Pha-rốt có Xa-cha-ri, và những kẻ ở với người; theo gia phổ sổ được một trăm năm mươi nam đinh;

·西

shǔ bā hā · mó yā de zǐ sūn yǒu xī lā xī yǎ de ér zi yǐ lì yuē nǎi , tóng zhe tā yǒu nán dīng èr bǎi ;

về con cháu Pha-hát-Mô-áp có Ê-li-ô-ê-nai, con trai của Xê-ra-hi-gia, và với người được hai trăm nam đinh;

shǔ shì jiā ní de zǐ sūn yǒu yǎ hā xī de ér zi , tóng zhe tā yǒu nán dīng sān bǎi ;

về con cháu Se-ca-nia có con trai Gia-ha-xi-ên, và với người được ba trăm nam đinh;

shǔ yà dīng de zǐ sūn yǒu yuē ná dān de ér zi yǐ bié , tóng zhe tā yǒu nán dīng wǔ shí ;

về con cháu A-đin có Ê-bết, con trai Giô-na-than, và với người được năm mươi nam đinh;

shǔ yǐ lán de zǐ sūn yǒu yà tā lì yǎ de ér zi yē shāi yà , tóng zhe tā yǒu nán dīng qī shí ;

về con cháu Ê-lam có Ê-sai, con trai A-tha-lia, và với người được bảy mươi nam đinh;

西

shǔ shì fǎ tí yǎ de zǐ sūn yǒu mǐ jiā lè de ér zi xī bā dì yǎ , tóng zhe tā yǒu nán dīng bā shí ;

về con cháu Sê-pha-ti-a có Xê-ba-đia, con trai Mi-ca-ên, và với người được tám mươi nam đinh;

shǔ yuē yā de zǐ sūn yǒu yē xiē de ér zi é bā dǐ yà , tóng zhe tā yǒu nán dīng èr bǎi yī shí bā ;

về con cháu Giô-áp có Aùp-đia, con trai Giê-hi-ên, và với người được hai trăm mưới tám nam đinh;

shǔ shì luó mì de zǐ sūn yǒu yuē xì fěi de ér zi , tóng zhe tā yǒu nán dīng yì bǎi liù shí ;

về con cháu Sê-lô-mít có con trai Giô-si-phia, và với người được một trăm sáu mươi nam đinh;

shǔ bǐ bài de zǐ sūn yǒu bǐ bài de ér zi sā jiā lì yà , tóng zhe tā yǒu nán dīng èr shí bā ;

về con cháu Bê-bai có Xa-cha-ri, con trai của Bê-bai, và với người được hai mươi tám nam đinh.

shǔ yā jiǎ de zǐ sūn yǒu hā jiā tǎn de ér zi yuē hā nán , tóng zhe tā yǒu nán dīng yì bǎi yī shí ;

về con cháu A-gát có Giô-ha-ham, con trai của Ha-ca-tan, và với người được một trăm mười nam đinh;

shǔ yà duō ní gān de zǐ sūn , jiù shì mò wěi de , tā men de míng zì shì yǐ lì fǎ liè 、 yē lì 、 shì mǎ yǎ , tóng zhe tā men yǒu nán dīng liù shí ;

những kẻ thuộc về con cháu A-đô-ni-cam đến sau hết; tên chúng là Ê-li-phê-lết, Giê-hi-ên, và Sê-ma-gia, và với họ được sáu mươi nam đinh;

shǔ bǐ gé wǎ yī de zǐ sūn yǒu wū tài hé sǎ bù , tóng zhe tā men yǒu nán dīng qī shí 。

về con cháu Biết-vai có U-tai cùng Xáp-bút, và với họ được bảy mươi nam đinh.

wǒ zhāo jù zhè xiē rén zài liú rù yà hā wǎ de hé biān , wǒ men zài nà lǐ zhù le sān rì 。 wǒ chá kàn bǎi xìng hé jì sī , jiàn méi yǒu lì wèi rén zài nà lǐ ,

Ta nhóm hiệp chúng gần bên sông chảy về A-ha-va, rồi chúng ta hạ trại tại đó ba ngày. Đoạn ta xem xét dân sự và thầy tế lễ, song chẳng thấy một người Lê-vi nào hết.

jiù zhào shǒu lǐng yǐ lì yǐ xiè 、 yà liè 、 shì mǎ yǎ 、 yǐ lì ná dān 、 yǎ lì 、 yǐ lì ná dān 、 ná dān 、 sā jiā lì yà 、 mǐ shū lán , yòu zhào jiào xí yuē yǎ lì hé yǐ lì ná dān 。

Ta bèn sai gọi các trưởng tộc Ê-li-ê-xe, A-ri-ên, Sê-ma-gia, Ê-na-than, Gia-ríp, Eân-na-than, Na-than, Xa-cha-ri, và Mê-su-lam, luôn Giô-gia-ríp và Eân-na-than, là thầy giáo sư;

西 殿使

wǒ dǎ fā tā men wǎng jiā xī fěi yǎ dì fāng qù jiàn nà lǐ de shǒu lǐng yì duō , yòu gào sù tā men dāng xiàng yì duō hé tā de dì xiong ní tí níng shuō shén me huà , jiào tā men wèi wǒ men shén de diàn dài shǐ yòng de rén lái 。

Ta sai các người ấy đi đến trưởng tộc Y-đô ở tại Ca-si-phia, biểu họ phải dạy Y-đô và các anh em người, tức người Nê-thi-nim, ở tại Ca-si-phia, phải dẫn đến cùng chúng ta những kẻ giúp việc nơi đền thờ của Đức Chúa Trời chúng ta.

méng wǒ men shén shī ēn de shǒu bāng zhù wǒ men , tā men zài yǐ sè liè de zēng sūn 、 lì wèi de sūn zi 、 mǒ lì de hòu yì zhōng dài yí gè tōng dá rén lái ; hái yǒu shì lì bǐ hé tā de zhòng zǐ yǔ dì xiong gòng yī shí bā rén 。

Vì nhờ tay Đức Chúa Trời chúng ta phù trợ, các người ấy dẫn đến cùng chúng ta một người khôn ngoan, thuộc về dòng Mách-li, là hậu tự của Lê-vi, con trai của Y-sơ-ra-ên, luôn Sê-rê-bia, và các con trai cùng anh em người, số được mười tám tên;

yòu yǒu hā shā bǐ yǎ , tóng zhe tā yǒu mǐ lā lì de zǐ sūn yē shāi yà , bìng tā de zhòng zǐ hé dì xiong gòng èr shí rén 。

lại được Ha-sa-bia và Ê-sai, thuộc về dòng Mê-ra-ri, cùng các anh em và các con trai người, số là hai mươi tên;

cóng qián dà wèi hé zhòng shǒu lǐng pài ní tí níng fú shì lì wèi rén , xiàn zài cóng zhè ní tí níng zhōng yě dài le èr bǎi èr shí rén lái , dōu shì àn míng zhǐ dìng de 。

còn trong những người Nê-thi-nim mà Đa-vít và các quan trưởng đã đặt giúp việc người Lê-vi, thì có được hai trăm hai mươi người, thảy đều gọi đích danh.

使

nà shí , wǒ zài yà hā wǎ hé biān xuān gào jìn shí , wèi yào zài wǒ men shén miàn qián kè kǔ jǐ xīn , qiú tā shǐ wǒ men hé fù rén hái zi , bìng yí qiè suǒ yǒu de , dōu dé píng tǎn de dào lù 。

Tại đó, gần bên sông A-ha-va, ta truyền kiêng cữ ăn, để chúng hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời chúng ta, và cầu xin Ngài chỉ cho biết đường chánh đáng chúng ta, con cái chúng ta, và tài sản mình phải đi.

:「 忿。」

wǒ qiú wáng bō bù bīng mǎ bīng bāng zhù wǒ men dǐ dǎng lù shang de chóu dí , běn yǐ wéi xiū chǐ ; yīn wǒ céng duì wáng shuō :「 wǒ men shén shī ēn de shǒu bì bāng zhù yí qiè xún qiú tā de ; dàn tā de néng lì hé fèn nù bì gōng jī yí qiè lí qì tā de 。」

Vả lại, ta lấy làm thẹn, chẳng dám xin vua một đạo quân và lính kỵ binh vực chúng ta khỏi kẻ thù nghịch trong lúc đi đường; vì chúng ta có nói với vua rằng: Tay của Đức Chúa Trời chúng tôi phù trợ mọi kẻ nào tìm kiếm Ngài; nhưng quyền năng và thạnh nộ Ngài kháng cự nhũng kẻ nào lìa bỏ Ngài.

suǒ yǐ wǒ men jìn shí qí qiú wǒ men de shén , tā jiù yīng yǔn le wǒ men 。

Aáy vậy, chúng ta kiêng cữ ăn và cầu xin Ngài điều ấy; Ngài bèn nhậm lời chúng ta.

wǒ fēn pài jì sī cháng shí èr rén , jiù shì shì lì bǐ 、 hā shā bǐ yǎ , hé tā men de dì xiong shí rén ,

Trong những thầy tế lễ, ta bèn chọn mười hai người trưởng, là Sê-rê-bia, Ha-sa-bia và mười người anh em họ;

殿

jiāng wáng hé móu shì 、 jūn zhǎng , bìng zài nà lǐ de yǐ sè liè zhòng rén wéi wǒ men shén diàn suǒ xiàn de jīn yín hé qì mǐn , dōu chèng le jiāo gěi tā men 。

đoạn, ta cân cho chúng các bạc, vàng, và những khí dụng mà vua, các mưu thần, các quan trưởng vua, cùng cả dân Y-sơ-ra-ên có mặt tại đó, đã dâng cho đền của Đức Chúa Trời chúng ta.

wǒ chèng le jiāo zài tā men shǒu zhōng de yín zi yǒu liù bǎi wǔ shí tā lián dé ; yín qì zhòng yì bǎi tā lián dé ; jīn zǐ yì bǎi tā lián dé ;

Vậy, ta cân giao cho họ sáu trăm năm mươi ta lâng bạc, khí dụng bằng bạc giá một trăm ta lâng, và một trăm ta-lâng vàng,

jīn wǎn èr shí gè , zhòng yì qiān dá lì kè ; shàng děng guāng tóng de qì mǐn liǎng gè , bǎo guì rú jīn 。

hai mươi cái chén bằng vàng giá một ngàn đa-riếc, và hai cái chậu vằng đồng bóng láng tốt nhất, cũng quí như vàng.

:「

wǒ duì tā men shuō :「 nǐ men guī yē hé huá wèi shèng , qì mǐn yě wèi shèng ; jīn yín shì gān xīn xiàn gěi yē hé huá — nǐ men liè zǔ zhī shén de 。

Rồi ta nói với chúng rằng: Chính các ngươi đã được biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va, và các khí dụng nầy cũng là thánh. Bạc và vàng nầy là lễ vật lạc ý dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi.

殿。」

nǐ men dāng jǐng xǐng kān shǒu , zhí dào nǐ men zài yē lù sā lěng yē hé huá diàn de kù nèi , zài jì sī zhǎng hé lì wèi zú zhǎng , bìng yǐ sè liè de gè zú zhǎng miàn qián guò le chèng 。」

Khá gìn giữ nó kỹ lưỡng cho đến chừng các ngươi cân lại trước mặt những thầy tế lễ cả, và người Lê-vi, cùng trước mặt các trưởng tộc của Y-sơ-ra-ên tại Giê-ru-sa-lem, trong kho đền thờ của Đức Giê-hô-va.

殿

yú shì , jì sī 、 lì wèi rén àn zhe fēn liáng jiē shòu jīn yín hé qì mǐn , yào dài dào yē lù sā lěng wǒ men shén de diàn lǐ 。

Vậy, những thầy tế lễ và người Lê-vi, sau khi đã kiểm soát lại sự cân nặng của bạc, vàng, và những khí dụng rồi, bèn thâu nhận đặn đem đến Giê-ru-sa-lem, trong đền thờ của Đức Chúa Trời chúng ta.

zhēng yuè shí èr rì , wǒ men cóng yà hā wǎ hé biān qǐ xíng , yào wǎng yē lù sā lěng qù 。 wǒ men shén de shǒu bǎo yòu wǒ men , jiù wǒ men tuō lí chóu dí hé lù shang mái fú zhī rén de shǒu 。

Ngày mười hai tháng giêng, chúng ta ở sông A-ha-va khởi-hành, đặng đi đến Giê-ru-sa-lem. Tay của Đức Chúa Trời chúng ta phù trợ chúng ta, giải cứu chúng ta khỏi tay kẻ thù nghịch, và khỏi kẻ rình phục dọc đường.

wǒ men dào le yē lù sā lěng , zài nà lǐ zhù le sān rì 。

Đoạn, chúng ta đến Giê-ru-sa-lem, ở tại đó ba ngày.

殿

dì sì rì , zài wǒ men shén de diàn lǐ bǎ jīn yín hé qì mǐn dōu chèng le , jiāo zài jì sī wū lì yà de ér zi mǐ lì mò de shǒu zhōng 。 tóng zhe tā yǒu fēi ní hā de ér zi yǐ lì yà sā , hái yǒu lì wèi rén yē shū yà de ér zi yuē sā bá hé bīn nèi de ér zi nuó yà dǐ 。

Ngày thứ tư, chúng ta cân lại bạc, vàng, và những khí dụng trong đền của Đức Chúa Trời, rồi giao cho Mê-rê-mốt, con trai U-ri, thầy tế lễ (với người có Ê-lê-a-sa, con trai của Phi-nê-a, Giô-xa-báp, con trai Giê-sua, và Nô-a-đia, con trai Bin-nui, người Lê-vi),

dāng shí dōu diǎn le shù mù , àn zhe fèn liàng xiě zài cè shàng 。

cứ theo số và cân; số cân nặng đều biên chép trong một k” ấy.

cóng lǔ dào zhī dì guī huí de rén xiàng yǐ sè liè de shén xiàn fán jì , jiù shì wèi yǐ sè liè zhòng rén xiàn gōng niú shí èr zhī , gōng mián yáng jiǔ shí liù zhī , mián yáng gāo qī shí qī zhī , yòu xiàn gōng shān yáng shí èr zhī zuò shú zuì jì , zhè dōu shì xiàng yē hé huá fén xiàn de 。

Những người đã bị bắt làm phu tù được trở về, dâng của lễ thiêu cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên bằng mười hai con bò đực vì cả Y-sơ-ra-ên, chín mươi sáu con chiên đực, bảy mươi bảy con chiên con, và mười hai con dê đực để làm của lễ chuộc tội: cả thảy đều dâng lên làm của lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va.

西 殿

tā men jiāng wáng de yù zhǐ jiāo gěi wáng suǒ pài de zǒng dū yǔ hé xī de shěng zhǎng , tā men jiù bāng zhù bǎi xìng , yòu gōng jǐ shén diàn lǐ suǒ xū yòng de 。

Chúng giao chiếu chỉ của vua cho các quan trấn, và cho các quan cai của vua ở phía bên nầy sông họ bèn giúp đỡ dân sự và việc đền thờ của Đức Chúa Trời.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.