中文圣经

SÁNG THẾ 14

đã biết 0/230

dāng àn lā fēi zuò shì ná wáng , yà lüè zuò yǐ lā sā wáng , jī dà lǎo mǎ zuò yǐ lán wáng , tí dá zuò gē yìn wáng de shí hòu ,

Trong đời Am-ra-phên, vua Si-nê-a; A-ri-óc, vua Ê-la-sa; Kết-rô-Lao me, vua Ê-lam, và Ti-đanh, vua Gô-im,

tā men dōu gōng dǎ suǒ duō mǎ wáng bǐ lā 、 é mó lā wáng bǐ shā 、 yā mǎ wáng shì nà 、 xǐ biǎn wáng shàn yǐ bié , hé bǐ lā wáng ; bǐ lā jiù shì suǒ ěr 。

bốn vua hiệp lại tranh chiến cùng Bê-ra, vua Sô-đôm; Bi-rê-sa, vua Gô-mô-rơ; Si-nê-áp, vua Aùt-ma; Sê-mê-bê, vua Xê-bô-im, và vua Bê-la, tức là Xoa.

西西

zhè wǔ wáng dū zài xī dìng gǔ huì hé ; xī dìng gǔ jiù shì yán hǎi 。

Các vua nầy hiệp lại tại trũng Si-điêm, bây giờ là biển muối.

tā men yǐ jīng shì fèng jī dà lǎo mǎ shí èr nián , dào shí sān nián jiù bèi pàn le 。

Trong mười hai năm các vua nầy đều là chư-hầu của vua Kết-rô-Lao me; nhưng qua năm thứ mười ba, thì họ dấy loạn.

·西·

shí sì nián , jī dà lǎo mǎ hé tóng méng de wáng dū lái zài yà tè lǜ · jiā níng , shā bài le lì fá yīn rén , zài hā mài shā bài le sū xī rén , zài shā wēi · jī liè tíng shā bài le yǐ mǐ rén ,

Nhằm năm thứ mười bốn, Kết-rô-Lao-me cùng các vua đồng minh kéo quân đến dẹp dân Rê-pha-im ở đất Aùch-tê-rót-Ca-na-im, dân Xu-xin tại đất Ham, dân Ê-mim ở trong đồng bằng Ki-ri-a-ta-im,

西·

zài hé lì rén de xī ěr shān shā bài le hé lì rén , yì zhí shā dào kào jìn kuàng yě de yī lè · bā lán 。

và dân Hô-rít tại núi Sê-i-rơ, cho đến nơi Eân-Ba-ran, ở gần đồng vắng.

··

tā men huí dào ān · mì bā , jiù shì jiā dī sī , shā bài le yà mǎ lì quán dì de rén , yǐ jí zhù zài hā xǐ xùn · tā mǎ de yà mó lì rén 。

Đoạn, các vua thâu binh trở về, đến Suối Xử đoán, tức Ca-đe, hãm đánh khắp miền dân A-ma-léc, và dân A-mô-rít ở tại Hát-sát sôn-Tha-ma.

西

yú shì suǒ duō mǎ wáng 、 é mó lā wáng 、 yā mǎ wáng 、 xǐ biǎn wáng , hé bǐ lā wáng ( bǐ lā jiù shì suǒ ěr ) dōu chū lái , zài xī dìng gǔ bǎi zhèn , yǔ tā men jiāo zhàn ,

Các vua của Sô-đôm, Gô-mô-rơ, Aùt-ma, Xê-bô-im và vua Bê-la, tức là Xoa, bèn xuất trận và dàn binh đóng tại trũng Si-điêm,

jiù shì yǔ yǐ lán wáng jī dà lǎo mǎ 、 gē yìn wáng tí dá 、 shì ná wáng àn lā fēi 、 yǐ lā sā wáng yà lüè jiāo zhàn ; nǎi shì sì wáng yǔ wǔ wáng jiāo zhàn 。

đặng chống cự cùng Kết-rô-Lao-me, vua Ê-lam; Ti-đanh, vua Gô-im; Am-ra-phên, vua Si-nê-a, và A-ri-óc, vua Ê-la-sa; bốn vị đang địch cùng năm.

西

xī dìng gǔ yǒu xǔ duō shí qī kēng 。 suǒ duō mǎ wáng hé é mó lā wáng táo pǎo , yǒu diào zài kēng lǐ de , qí yú de rén dōu wǎng shān shàng táo pǎo 。

Vả, trong trũng Si-điêm có nhiều hố nhựa chai; vua Sô-đôm và vua Gô-mô-rơ thua chạy, sa xuống hố, còn kẻ nào thoát được chạy trốn trên núi.

sì wáng jiù bǎ suǒ duō mǎ hé é mó lā suǒ yǒu de cái wù , bìng yí qiè de liáng shí dōu lǔ lüè qù le ;

Bên thắng trận bèn cướp lấy hết của cải và lương thực của Sô-đôm và Gô-mô-rơ, rồi đi.

yòu bǎ yà bó lán de zhí ér luó dé hé luó dé de cái wù lǔ lüè qù le 。 dāng shí luó dé zhèng zhù zài suǒ duō mǎ 。

Giặc cũng bắt Lót, là cháu của Aùp-ram, ở tại Sô-đôm, và hết thảy gia tài người, rồi đem đi.

yǒu yí gè táo chū lái de rén gào sù xī bó lái rén yà bó lán ; yà bó lán zhèng zhù zài yà mó lì rén màn lì de xiàng shù nà lǐ 。 màn lì hé yǐ shí gè bìng yà nǎi dōu shì dì xiong , céng yǔ yà bó lán lián méng 。

Có một người thoát được chạy đến báo điều đó cùng Aùp-ram, là người Hê-bơ-rơ. Aùp-ram ở tại lùm cây dẻ bộp của Mam-rê, là người A-mô-rít, anh của Eách-côn và A-ne; ba người nầy đã có kết-ước cùng Aùp-ram.

yà bó lán tīng jiàn tā zhí ér bèi lǔ qù , jiù shuài lǐng tā jiā lǐ shēng yǎng de jīng liàn zhuàng dīng sān bǎi yī shí bā rén , zhí zhuī dào dàn ,

Khi Aùp-ram hay được cháu mình bị quân giặc bắt, bèn chiêu tập ba trăm mười tám gia nhân đã tập luyện, sanh đẻ nơi nhà mình, mà đuổi theo các vua đó đến đất Đan.

便

biàn zài yè jiān , zì jǐ tóng pú rén fēn duì shā bài dí rén , yòu zhuī dào dà mǎ shì gé zuǒ biān de hé bǎ ,

Đoạn Aùp-ram chia bọn đầy tớ mình ra, thừa ban đêm xông hãm quân nghịch, đánh đuổi theo đến đất Hô-ba ở về phía tả Đa-mách.

jiāng bèi lǔ lüè de yí qiè cái wù duó huí lái , lián tā zhí ér luó dé hé tā de cái wù , yǐ jí fù nǚ 、 rén mín yě dōu duó huí lái 。

Người thâu về đủ hết các tài vật mà quân giặc đã cướp lấy; lại cũng dẫn cháu mình, là Lót cùng gia tài người, đàn bà và dân chúng trở về.

yà bó lán shā bài jī dà lǎo mǎ hé yǔ tā tóng méng de wáng huí lái de shí hòu , suǒ duō mǎ wáng chū lái , zài shā wēi gǔ yíng jiē tā ; shā wēi gǔ jiù shì wáng gǔ 。

Sau khi Aùp-ram đánh bại Kết-rô-Lao-me và các vua đồng minh, thắng trận trở về, thì vua Sô-đôm ra đón rước người tại trũng Sa-ve, tức là trũng Vua.

yòu yǒu sā lěng wáng mài jī xǐ dé dài zhe bǐng hé jiǔ chū lái yíng jiē ; tā shì zhì gāo shén de jì sī 。

Mên-chi-xê-đéc, vua Sa-lem, sai đem bánh và rượu ra. Vả, vua nầy là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời Chí cao,

:「

tā wèi yà bó lán zhù fú , shuō :「 yuàn tiān dì de zhǔ 、 zhì gāo de shén cì fú yǔ yà bó lán !

chúc phước cho Aùp-ram và nói rằng: Nguyện Đức Chúa Trời Chí cao, là Đấng dựng nên trời và đất, ban phước cho Aùp-ram!

!」

zhì gāo de shén bǎ dí rén jiāo zài nǐ shǒu lǐ , shì yīng dāng chēng sòng de !」 yà bó lán jiù bǎ suǒ dé de ná chū shí fēn zhī yī lái , gěi mài jī xǐ dé 。

Đáng ngợi khen thay Đức Chúa Trời Chí cao đã phó kẻ thù nghịch vào tay ngươi! Đoạn, Aùp-ram lấy một phần mười về cả của giặc mà dâng cho vua đó.

:「!」

suǒ duō mǎ wáng duì yà bó lán shuō :「 nǐ bǎ rén kǒu gěi wǒ , cái wù nǐ zì jǐ ná qù ba !」

Vua Sô-đôm bèn nói cùng Aùp-ram rằng: Hãy giao người cho ta, còn của cải, thì ngươi thâu lấy.

:「

yà bó lán duì suǒ duō mǎ wáng shuō :「 wǒ yǐ jīng xiàng tiān dì de zhǔ — zhì gāo de shén yē hé huá qǐ shì :

Aùp-ram đáp lại rằng: Tôi giơ tay lên trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời Chí cao, Chúa Tể của trời và đất, mà thề rằng:

西线:『使!』

fán shì nǐ de dōng xī , jiù shì yì gēn xiàn 、 yì gēn xié dài , wǒ dōu bù ná , miǎn de nǐ shuō :『 wǒ shǐ yà bó lán fù zú !』

Hễ của chi thuộc về vua, dầu đến một sợi chỉ, hay là một sợi dây giày đi nữa, tôi cũng chẳng hề lấy; e vua nói được rằng: Nhờ ta làm cho Aùp-ram giàu có,

。」

zhǐ yǒu pú rén suǒ chī de , bìng yǔ wǒ tóng háng de yà nǎi 、 yǐ shí gè 、 màn lì suǒ yīng dé de fēn , kě yǐ rèn píng tā men ná qù 。」

chỉ món chi của những người trẻ đã ăn, và phần của các người cùng đi với tôi, là A-ne, Eách-côn và Mam-rê; về phần họ, họ hãy lấy phần của họ đi.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.