中文圣经

SÁNG THẾ 15

đã biết 0/220

:「。」

zhè shì yǐ hòu , yē hé huá zài yì xiàng zhōng yǒu huà duì yà bó lán shuō :「 yà bó lán , nǐ bú yào jù pà ! wǒ shì nǐ de dùn pái , bì dà dà dì shǎng cì nǐ 。」

Sau các việc đó, trong sự hiện thấy có lời Đức Giê-hô-va phán cùng Aùp-ram rằng: Hỡi Aùp-ram! ngươi chớ sợ chi; ta đây là một cái thuẫn đỡ cho ngươi; phần thưởng của ngươi sẽ rất lớn.

:「。」

yà bó lán shuō :「 zhǔ yē hé huá a , wǒ jì wú zǐ , nǐ hái cì wǒ shén me ne ? bìng qiě yào chéng shòu wǒ jiā yè de shì dà mǎ shì gé rén yǐ lì yǐ xiè 。」

Aùp-ram thưa rằng: Lạy Chúa Giê-hô-va, Chúa sẽ cho tôi chi? Tôi sẽ chết không con, kẻ nối nghiệp nhà tôi là Ê-li-ê-se, người Đa-mách.

:「。」

yà bó lán yòu shuō :「 nǐ méi yǒu gěi wǒ ér zi ; nà shēng zài wǒ jiā zhōng de rén jiù shì wǒ de hòu sì 。」

Aùp-ram lại nói rằng: Nầy, Chúa làm cho tôi tuyệt-tự; một kẻ tôi tớ sanh đẻ tại nhà tôi sẽ làm người kế nghiệp tôi.

:「。」

yē hé huá yòu yǒu huà duì tā shuō :「 zhè rén bì bù chéng wéi nǐ de hòu sì ; nǐ běn shēn suǒ shēng de cái chéng wéi nǐ de hòu sì 。」

Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Aùp-ram rằng: Kẻ đó chẳng phải là kẻ kế nghiệp ngươi đâu, nhưng ai ở trong gan ruột ngươi ra, sẽ là người kế nghiệp ngươi.

:「?」:「。」

yú shì lǐng tā zǒu dào wài biān , shuō :「 nǐ xiàng tiān guān kàn , shù suàn zhòng xīng , néng shù dé guò lái ma ?」 yòu duì tā shuō :「 nǐ de hòu yì jiāng yào rú cǐ 。」

Đoạn, Ngài dẫn người ra ngoài và phán rằng: Ngươi hãy ngó lên trời, và nếu ngươi đếm được các ngôi sao thì hãy đếm đi. Ngài lại phán rằng: Dòng dõi ngươi cũng sẽ như vậy.

yà bó lán xìn yē hé huá , yē hé huá jiù yǐ cǐ wèi tā de yì 。

Aùp-ram tin Đức Giê-hô-va, thì Ngài kể sự đó là công bình cho người.

:「。」

yē hé huá yòu duì tā shuō :「 wǒ shì yē hé huá , céng lǐng nǐ chū le jiā lè dǐ de wú ěr , wèi yào jiāng zhè dì cì nǐ wèi yè 。」

Đức Giê-hô-va lại phán cùng Aùp-ram rằng: Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng đã dẫn ngươi ra khỏi U-rơ, thuộc về xứ Canh-đê, để ban cho ngươi xứ nầy làm sản nghiệp.

:「?」

yà bó lán shuō :「 zhǔ yē hé huá a , wǒ zěn néng zhī dào bì dé zhè dì wèi yè ne ?」

Aùp-ram thưa rằng: Lạy Chúa Giê-hô-va, bởi cớ chi tôi biết rằng tôi sẽ được xứ nầy làm sản nghiệp?

:「。」

tā shuō :「 nǐ wèi wǒ qǔ yì zhī sān nián de mǔ niú , yì zhī sān nián de mǔ shān yáng , yì zhī sān nián de gōng mián yáng , yì zhī bān jiū , yì zhī chú gē 。」

Đức Giê-hô-va đáp rằng: Ngươi hãy bắt đem cho ta một con bò cái ba tuổi, một con dê cái ba tuổi, một con chiên đực ba tuổi, một con cu rừng và một con bò câu con.

yà bó lán jiù qǔ le zhè xiē lái , měi yàng pī kāi , fēn chéng liǎng bàn , yí bàn duì zhe yí bàn dì bǎi liè , zhǐ yǒu niǎo méi yǒu pī kāi 。

Aùp-ram bắt đủ các loài vật đó, mổ làm hai, để mỗi nửa con mỗi bên đối với nhau, nhưng không mổ các loài chim ra làm hai.

yǒu zhì niǎo xià lái , luò zài nà sǐ chù de ròu shàng , yà bó lán jiù bǎ tā xià fēi le 。

Có những chim ăn mồi bay đáp trên mấy con thú chết đó, song Aùp-ram đuổi nó đi.

rì tou zhèng luò de shí hòu , yà bó lán chén chén dì shuì le ; hū rán yǒu jīng rén de dà hēi àn luò zài tā shēn shàng 。

Vả, khi mặt trời vừa lặn, thì Aùp-ram ngủ mê; nầy một cơn kinh hãi, tối tăm nhập vào mình người.

:「

yē hé huá duì yà bó lán shuō :「 nǐ yào dí què zhī dào , nǐ de hòu yì bì jì jū bié rén de dì , yòu fú shì nà dì de rén ; nà dì de rén yào kǔ dài tā men sì bǎi nián 。

Đức Giê-hô-va phán cùng Aùp-ram rằng: Phải biết rằng, dòng dõi ngươi sẽ ngụ trong một xứ chẳng thuộc về chúng nó, làm tôi mọi cho dân xứ đó và bị họ hà hiếp bốn trăm năm.

bìng qiě tā men suǒ yào fú shì de nà guó , wǒ yào chéng fá , hòu lái tā men bì dài zhe xǔ duō cái wù cóng nà lǐ chū lái 。

Nhưng, ta sẽ đoán phạt dân mà dòng dõi ngươi sẽ làm tôi mọi đó; rồi khi ra khỏi xứ, thì sẽ được của cải rất nhiều.

寿

dàn nǐ yào xiǎng dà shòu shù , píng píng ān ān dì guī dào nǐ liè zǔ nà lǐ , bèi rén mái zàng 。

Còn ngươi sẽ bình yên về nơi tổ phụ, hưởng lộc già sung sướng, rồi qua đời.

。」

dào le dì sì dài , tā men bì huí dào cǐ dì , yīn wèi yà mó lì rén de zuì niè hái méi yǒu mǎn yíng 。」

Đến đời thứ tư, dòng dõi ngươi sẽ trở lại đây, vì tội lỗi của dân A-mô-rít chưa được đầy dẫy.

rì luò tiān hēi , bú liào yǒu mào yān de lú bìng shāo zhe de huǒ bǎ cóng nà xiē ròu kuài zhōng jīng guò 。

Khi mặt trời đã lặn, thình lình sự tối mịt giáng xuống; kìa có một lò lớn khói lên, và một ngọn lửa lòe ngang qua các xác thịt đã mổ,

:「

dāng nà rì , yē hé huá yǔ yà bó lán lì yuē , shuō :「 wǒ yǐ cì gěi nǐ de hòu yì , cóng āi jí hé zhí dào yòu fā lā dǐ dà hé zhī dì ,

Ngày đó, Đức Giê-hô-va lập giao ước cùng Aùp-ram, mà phán rằng: Ta cho dòng dõi ngươi xứ nầy, từ sông Ê-díp-tô cho đến sông lớn kia, tức sông Ơ-phơ-rát,

jiù shì jī ní rén 、 jī ní xǐ rén 、 jiǎ mó ní rén 、

là xứ của các dân Kê-nít, Kê-nê-sít, Cát-mô-nít

hè rén 、 bǐ lì xǐ rén 、 lì fá yīn rén 、

Hê-tít, Phê-rê-sít, Rê-pha-im,

。」

yà mó lì rén 、 jiā nán rén 、 gé jiā sā rén 、 yē bù sī rén zhī dì 。」

A-mô-nít, Ca-na-an, Ghi-ê-ga-sít và Giê-bu-sít.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.