中文圣经

SÁNG THẾ 21

đã biết 0/259

便

yē hé huá àn zhe xiān qián de huà juàn gù sā lā , biàn zhào tā suǒ shuō de gěi sā lā chéng jiù 。

Đức Giê-hô-va đến viếng Sa-ra, theo như lời Ngài đã phán, và làm cho nàng như lời Ngài đã nói.

怀

dāng yà bó lā hǎn nián lǎo de shí hòu , sā lā huái le yùn ; dào shén suǒ shuō de rì qī , jiù gěi yà bó lā hǎn shēng le yí gè ér zi 。

Sa-ra thọ thai, sanh một con trai cho Aùp-ra-ham trong khi tuổi đã già, đúng kỳ Đức Chúa Trời đã định.

yà bó lā hǎn gěi sā lā suǒ shēng de ér zi qǐ míng jiào yǐ sā 。

Aùp-ra-ham đặt tên đứa trai mà Sa-ra đã sanh cho mình là Y-sác.

yǐ sā shēng xià lái dì bā rì , yà bó lā hǎn zhào zhe shén suǒ fēn fù de , gěi yǐ sā xíng le gē lǐ 。

Đúng tám ngày, Aùp-ra-ham làm phép cắt bì cho Y-sác theo như lời Đức Chúa Trời đã phán dặn.

tā ér zi yǐ sā shēng de shí hòu , yà bó lā hǎn nián yì bǎi suì 。

Vả, khi Y-sác ra đời, thì Aùp-ra-ham đã được một trăm tuổi.

:「 使」;

sā lā shuō :「 shén shǐ wǒ xǐ xiào , fán tīng jiàn de bì yǔ wǒ yì tóng xǐ xiào 」;

Sa-ra nói rằng: Đức Chúa Trời làm cho tôi một việc vui cười; hết thảy ai hay được cũng sẽ vui cười về sự của tôi.

:「。」

yòu shuō :「 shuí néng yù xiān duì yà bó lā hǎn shuō 『 sā lā yào rǔ yǎng yīng hái 』 ne ? yīn wèi zài tā nián lǎo de shí hòu , wǒ gěi tā shēng le yí gè ér zi 。」

Lại nói rằng: Há ai dám nói với Aùp-ra-ham rằng Sa-ra sẽ cho con bú ư? vì tôi đã sanh một đứa trai trong lúc người già yếu rồi.

hái zi jiàn cháng , jiù duàn le nǎi 。 yǐ sā duàn nǎi de rì zi , yà bó lā hǎn shè bǎi fēng shèng de yán xí 。

Đứa trẻ lớn lên, thì thôi bú. Chính ngày Y-sác thôi bú, Aùp-ra-ham bày một tiệc lớn ăn mừng.

dāng shí , sā lā kàn jiàn āi jí rén xià jiǎ gěi yà bó lā hǎn suǒ shēng de ér zi xì xiào ,

Sa-ra thấy đứa trai của A-ga, người Ê-díp-tô, đã sanh cho Aùp-ra-ham, cười cợt,

:「使使。」

jiù duì yà bó lā hǎn shuō :「 nǐ bǎ zhè shǐ nǚ hé tā ér zi gǎn chū qù ! yīn wèi zhè shǐ nǚ de ér zi bù kě yǔ wǒ de ér zi yǐ sā yì tóng chéng shòu chǎn yè 。」

thì người nói với Aùp-ra-ham rằng: Hãy đuổi con đòi với con nó đi đi, vì đứa trai của con đòi nầy sẽ chẳng được kế nghiệp cùng con trai tôi là Y-sác đâu.

yà bó lā hǎn yīn tā ér zi de yuán gù hěn yōu chóu 。

Lời nầy lấy làm buồn lòng Aùp-ra-ham lắm, vì cớ con trai mình.

:「使

shén duì yà bó lā hǎn shuō :「 nǐ bú bì wèi zhè tóng zǐ hé nǐ de shǐ nǚ yōu chóu 。 fán sā lā duì nǐ shuō de huà , nǐ dōu gāi tīng cóng ; yīn wèi cóng yǐ sā shēng de , cái yào chēng wéi nǐ de hòu yì 。

Nhưng Đức Chúa Trời phán cùng Aùp-ra-ham rằng: Ngươi chớ buồn bực vì con trai và con đòi ngươi. Sa-ra nói thể nào, hãy nghe theo tiếng người nói; vì do nơi Y-sác sẽ sanh ra dòng dõi lưu danh ngươi.

使使。」

zhì yú shǐ nǚ de ér zǐ , wǒ yě bì shǐ tā de hòu yì chéng lì yì guó , yīn wèi tā shì nǐ suǒ shēng de 。」

Ta cũng sẽ làm cho đứa trai của con đòi trở nên một dân, vì nó cũng do nơi ngươi mà ra.

yà bó lā hǎn qīng zǎo qǐ lái , ná bǐng hé yì pí dài shuǐ , gěi le xià jiǎ , dā zài tā de jiān shàng , yòu bǎ hái zi jiāo gěi tā , dǎ fā tā zǒu 。 xià jiǎ jiù zǒu le , zài bié shì bā de kuàng yě zǒu mí le lù 。

Aùp-ra-ham dậy sớm, lấy bánh và một bầu nước, đưa cho A-ga; để các món đó trên vai nàng, và giao đứa trai cho nàng, rồi đuổi đi. Nàng ra đi, đi dông dài trong đồng vắng Bê-e-Sê-ba.

pí dài de shuǐ yòng jìn le , xià jiǎ jiù bǎ hái zi piě zài xiǎo shù dǐ xià ,

Khi nước trong bầu đã hết, nàng để đứa trẻ dưới một cội cây nhỏ kia,

:「」,

zì jǐ zǒu kāi yuē yǒu yí jiàn zhī yuǎn , xiāng duì ér zuò , shuō :「 wǒ bù rěn jiàn hái zi sǐ 」, jiù xiāng duì ér zuò , fàng shēng dà kū 。

đi ngồi đối diện cách xa xa dài chừng một khoảng tên bắn; vì nói rằng: Oâi! tôi nỡ nào thấy đứa trẻ phải chết! Nàng ngồi đối diện đó, cất tiếng la khóc.

使:「

shén tīng jiàn tóng zǐ de shēng yīn ; shén de shǐ zhě cóng tiān shàng hū jiào xià jiǎ shuō :「 xià jiǎ , nǐ wèi hé zhè yàng ne ? bú yào hài pà , shén yǐ jīng tīng jiàn tóng zǐ de shēng yīn le 。

Đức Chúa Trời nghe tiếng đứa trẻ khóc, thì thiên sứ của Đức Chúa Trời từ trên trời kêu nàng A-ga mà phán rằng: Hỡi A-ga! Ngươi có điều gì vậy? Chớ sợ chi, vì Đức Chúa Trời đã nghe tiếng đứa trẻ ở đâu đó rồi.

怀使。」

qǐ lái ! bǎ tóng zǐ bào zài huái zhōng , wǒ bì shǐ tā de hòu yì chéng wéi dà guó 。」

Hãy đứng dậy đỡ lấy đứa trẻ và giơ tay nắm nó, vì ta sẽ làm cho nó nên một dân lớn.

使便

shén shǐ xià jiǎ de yǎn jīng míng liàng , tā jiù kàn jiàn yì kǒu shuǐ jǐng , biàn qù jiāng pí dài shèng mǎn le shuǐ , gěi tóng zǐ hē 。

Đoạn, Đức Chúa Trời mở mắt nàng ra; nàng bèn thấy một cái giếng nước, và đi lại múc đầy bầu cho đứa trẻ uống.

shén bǎo yòu tóng zǐ , tā jiù jiàn cháng , zhù zài kuàng yě , chéng le gōng jiàn shǒu 。

Đức Chúa Trời vùa giúp đứa trẻ; nó lớn lên, ở trong đồng vắng, có tài bắn cung.

tā zhù zài bā lán de kuàng yě ; tā mǔ qīn cóng āi jí dì gěi tā qǔ le yí gè qī zǐ 。

Nó ở tại trong đồng vắng Pha-ran; mẹ cưới cho nó một người vợ quê ở xứ Ê-díp-tô.

:「

dāng nà shí hòu , yà bǐ mǐ lè tóng tā jūn cháng fēi gè duì yà bó lā hǎn shuō :「 fán nǐ suǒ xíng de shì dōu yǒu shén de bǎo yòu 。

Về thuở đó, vua A-bi-mê-léc và Phi-côn, quan tổng binh mình, nói cùng Aùp-ra-ham rằng: Đức Chúa Trời vùa giúp ngươi trong mọi việc ngươi làm.

。」

wǒ yuàn nǐ rú jīn zài zhè lǐ zhǐ zhe shén duì wǒ qǐ shì , bú yào qī fù wǒ yǔ wǒ de ér zi , bìng wǒ de zǐ sūn 。 wǒ zěn yàng hòu dài le nǐ , nǐ yě yào zhào yàng hòu dài wǒ yǔ nǐ suǒ jì jū zhè dì de mín 。」

Vậy bây giờ, hãy chỉ danh Đức Chúa Trời mà thề rằng: Ngươi sẽ chẳng gạt ta, con ta cùng dòng giống ta. Nhưng ngươi sẽ đãi ta và xứ ngươi đang trú ngụ, một lòng tử tế như ta đã đãi ngươi vậy.

:「。」

yà bó lā hǎn shuō :「 wǒ qíng yuàn qǐ shì 。」

Aùp-ra-ham đáp rằng: Tôi xin thề.

cóng qián , yà bǐ mǐ lè de pú rén bà zhàn le yì kǒu shuǐ jǐng , yà bó lā hǎn wèi zhè shì zhǐ zé yà bǐ mǐ lè 。

Aùp-ra-ham phàn nàn cùng vua A-bi-mê-léc về vụ một giếng kia bị đầy tớ người chiếm đoạt.

:「。」

yà bǐ mǐ lè shuō :「 shuí zuò zhè shì , wǒ bù zhī dào , nǐ yě méi yǒu gào sù wǒ , jīn rì wǒ cái tīng jiàn le 。」

Vua A-bi-mê-léc bèn nói rằng: Ta chẳng hay ai đã làm nên nông nổi đó; chính ngươi chẳng cho ta hay trước; ngày nay ta mới rõ đây mà thôi.

yà bó lā hǎn bǎ yáng hé niú gěi le yà bǐ mǐ lè , èr rén jiù bǐ cǐ lì yuē 。

Đoạn, Aùp-ra-ham bắt chiên và bò, dâng cho vua A-bi-mê-léc; rồi hai người kết ước cùng nhau.

yà bó lā hǎn bǎ qī zhī mǔ yáng gāo lìng fàng zài yí chù 。

Aùp-ra-ham lựa để riêng ra bảy con chiên tơ trong bầy;

:「?」

yà bǐ mǐ lè wèn yà bó lā hǎn shuō :「 nǐ bǎ zhè qī zhī mǔ yáng gāo lìng fàng zài yí chù , shì shén me yì sī ne ?」

thì vua A-bi-mê-léc hỏi rằng: Làm chi để bảy con chiên tơ đó riêng ra vậy?

:「。」

tā shuō :「 nǐ yào cóng wǒ shǒu lǐ shòu zhè qī zhī mǔ yáng gāo , zuò wǒ wā zhè kǒu jǐng de zhèng jù 。」

Đáp rằng: Xin vua hãy nhận lấy bảy con chiên tơ nầy mà chính tay tôi dâng cho, đặng làm chứng rằng tôi đã đào cái giếng nầy.

suǒ yǐ tā gěi nà dì fāng qǐ míng jiào bié shì bā , yīn wèi tā men èr rén zài nà lǐ qǐ le shì 。

Bởi cớ ấy, nên họ đặt tên chỗ nầy là Bê-e-Sê-ba; vì tại đó hai người đều đã thề nguyện cùng nhau.

tā men zài bié shì bā lì le yuē , yà bǐ mǐ lè jiù tóng tā jūn zhǎng fēi gè qǐ shēn huí fēi lì shì dì qù le 。

Vậy, hai người kết ước cùng nhau tại Bê-e-Sê-ba. Đoạn vua A-bi-mê-léc cùng quan tổng binh Phi-côn đứng dậy, trở về xứ Phi-li-tin.

yà bó lā hǎn zài bié shì bā zāi shàng yì kē chuí sī liǔ shù , yòu zài nà lǐ qiú gào yē hé huá — yǒng shēng shén de míng 。

Aùp-ra-ham trồng một cây me tại Bê-e-Sê-ba, và ở đó người cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời hằng-hữu.

yà bó lā hǎn zài fēi lì shì rén de dì jì jū le duō rì 。

Aùp-ra-ham trú ngụ lâu ngày tại xứ Phi-li-tin.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.