中文圣经

SÁNG THẾ 27

đã biết 0/301

:「。」:「。」

yǐ sā nián lǎo , yǎn jīng hūn huā , bù néng kàn jiàn , jiù jiào le tā dà ér zi yǐ sǎo lái , shuō :「 wǒ ér 。」 yǐ sǎo shuō :「 wǒ zài zhè lǐ 。」

Bởi Y-sác đã già, mắt làng chẳng thấy được nữa, bèn gọi Ê-sau, con trưởng nam, mà rằng: Hỡi con! Ê-sau thưa rằng: Có con đây.

:「

tā shuō :「 wǒ rú jīn lǎo le , bù zhī dào nǎ yì tiān sǐ 。

Người bèn nói rằng: Nầy, cha đã già rồi, chẳng biết ngày nào phải chết;

xiàn zài ná nǐ de qì xiè , jiù shì jiàn náng hé gōng , wǎng tián yě qù wèi wǒ dǎ liè ,

vậy bây giờ, cha xin con hãy lấy khí giới, ống tên và cung con, ra đồng săn thịt rừng cho cha,

使。」

zhào wǒ suǒ ài de zuò chéng měi wèi , ná lái gěi wǒ chī , shǐ wǒ zài wèi sǐ zhī xiān gěi nǐ zhù fú 。」

dọn một món ngon tùy theo cha sở thích; rồi dâng lên cho cha ăn, đặng linh hồn cha chúc phước cho con trước khi chết.

yǐ sā duì tā ér zi yǐ sǎo shuō huà , lì bǎi jiā yě tīng jiàn le 。 yǐ sǎo wǎng tián yě qù dǎ liè , yào dé yě wèi dài lái 。

Vả, đang khi Y-sác nói cùng Ê-sau con trai mình, thì Rê-be-ca có nghe. Ê-sau bèn ra đồng săn thịt rừng đặng đem về cho cha.

:「

lì bǎi jiā jiù duì tā ér zi yǎ gè shuō :「 wǒ tīng jiàn nǐ fù qīn duì nǐ gē ge yǐ sǎo shuō :

Rê-be-ca nói cùng Gia-cốp, con trai mình, rằng: Nầy, mẹ có nghe cha nói cùng Ê-sau, anh con, và dặn rằng:

。』

『 nǐ qù bǎ yě shòu dài lái , zuò chéng měi wèi gěi wǒ chī , wǒ hǎo zài wèi sǐ zhī xiān , zài yē hé huá miàn qián gěi nǐ zhù fú 。』

Hãy đem thịt rừng về cho cha, dọn một món ngon cha ăn; đặng trước khi qua đời, cha sẽ chúc phước cho con trước mặt Đức Giê-hô-va.

xiàn zài , wǒ ér , nǐ yào zhào zhe wǒ suǒ fēn fù nǐ de , tīng cóng wǒ de huà 。

Vậy, con ơi! bây giờ, hãy nghe mẹ và làm theo lời mẹ biểu:

便

nǐ dào yáng qún lǐ qù , gěi wǒ ná liǎng zhī féi shān yáng gāo lái , wǒ biàn zhào nǐ fù qīn suǒ ài de gěi tā zuò chéng měi wèi 。

Hãy ra ngoài bầy, bắt hai dê con tốt, rồi mẹ sẽ dọn cho cha con một món ngon, tùy theo người sở thích;

使。」

nǐ ná dào nǐ fù qīn nà lǐ gěi tā chī , shǐ tā zài wèi sǐ zhī xiān gěi nǐ zhù fú 。」

con sẽ đem cho cha ăn, đặng người chúc phước con trước khi qua đời.

:「

yǎ gè duì tā mǔ qīn lì bǎi jiā shuō :「 wǒ gē ge yǐ sǎo hún shēn shì yǒu máo de , wǒ shēn shàng shì guāng huá de ;

Gia-cốp thưa lại cùng mẹ rằng: Thưa mẹ, Ê-sau, anh con, có lông, còn con lại không.

。」

tǎng ruò wǒ fù qīn mō zhe wǒ , bì yǐ wǒ wèi qī hǒng rén de , wǒ jiù zhāo zhòu zǔ , bù dé zhù fú 。」

Có lẽ cha sẽ rờ mình chăng, coi con như kẻ phỉnh gạt, thì con chắc lấy cho mình sự rủa sả, chớ chẳng phải sự chúc phước đâu.

:「。」

tā mǔ qīn duì tā shuō :「 wǒ ér , nǐ zhāo de zhòu zǔ guī dào wǒ shēn shàng ; nǐ zhǐ guǎn tīng wǒ de huà , qù bǎ yáng gāo gěi wǒ ná lái 。」

Mẹ đáp rằng: Con ơi! xin sự rủa sả đó để cho mẹ chịu; hãy cứ nghe lời mẹ, ra bắt hai dê con.

便

tā biàn qù ná lái , jiāo gěi tā mǔ qīn ; tā mǔ qīn jiù zhào tā fù qīn suǒ ài de zuò chéng měi wèi 。

Vậy, Gia-cốp đi bắt hai dê con, đem lại cho mẹ, làm món ngon, tùy theo cha sở thích.

穿

lì bǎi jiā yòu bǎ jiā lǐ suǒ cún dà ér zi yǐ sǎo shàng hǎo de yī fu gěi tā xiǎo ér zi yǎ gè chuān shàng ,

Đoạn Rê-be-ca lấy quần áo tốt nhất của Ê-sau, con trưởng nam, sẵn để trong nhà, mà mặc vào cho Gia-cốp, con út mình;

yòu yòng shān yáng gāo pí bāo zài yǎ gè de shǒu shàng hé jǐng xiàng de guāng huá chù ,

rồi người lấy da dê con bao hai tay và cổ, vì tay và cổ Gia-cốp không có lông.

jiù bǎ suǒ zuò de měi wèi hé bǐng jiāo zài tā ér zi yǎ gè de shǒu lǐ 。

Rê-be-ca bèn để món ngon và bánh của mình đã dọn vào tay con út mình.

:「!」:「?」

yǎ gè dào tā fù qīn nà lǐ shuō :「 wǒ fù qīn !」 tā shuō :「 wǒ zài zhè lǐ 。 wǒ ér , nǐ shì shuí ?」

Gia-cốp bưng đến cha mình và nói rằng: Thưa cha! Y-sác đáp: Có cha đây; con là đứa nào đó?

:「。」

yǎ gè duì tā fù qīn shuō :「 wǒ shì nǐ de zhǎng zǐ yǐ sǎo ; wǒ yǐ zhào nǐ suǒ fēn fù wǒ de xíng le 。 qǐng qǐ lái zuò zhe , chī wǒ de yě wèi , hǎo gěi wǒ zhù fú 。」

Gia-cốp thưa: Tôi là Ê-sau, con trưởng nam của cha; con đã làm theo lời cha dặn biểu; xin cha dậy, ngồi ăn lấy thịt săn của con, đặng linh hồn cha sẽ chúc phước cho con.

:「?」:「 使。」

yǐ sā duì tā ér zi shuō :「 wǒ ér , nǐ rú hé zhǎo dé zhè me kuài ne ?」 tā shuō :「 yīn wèi yē hé huá — nǐ de shén shǐ wǒ yù jiàn hǎo jī huì dé zhe de 。」

Y-sác hỏi rằng: Sao con đi săn được mau thế? Thưa rằng: Aáy nhờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của cha xui tôi gặp mau vậy.

:「。」

yǐ sā duì yǎ gè shuō :「 wǒ ér , nǐ jìn qián lái , wǒ mō mō nǐ , zhī dào nǐ zhēn shì wǒ de ér zi yǐ sǎo bú shì 。」

Y-sác nói cùng Gia-cốp rằng: Hỡi con! hãy lại gần đặng cha rờ thử xem có phải là Ê-sau, con của cha chăng?

:「。」

yǎ gè jiù āi jìn tā fù qīn yǐ sā 。 yǐ sā mō zhe tā , shuō :「 shēng yīn shì yǎ gè de shēng yīn , shǒu què shì yǐ sǎo de shǒu 。」

Gia-cốp bèn lại gần Y-sác; người rờ và nói rằng: Tiếng nói thì của Gia-cốp, còn hai tay lại của Ê-sau.

yǐ sā jiù biàn bù chū tā lái ; yīn wèi tā shǒu shàng yǒu máo , xiàng tā gē ge yǐ sǎo de shǒu yí yàng , jiù gěi tā zhù fú ;

Người chẳng nhận biết đặng vì hai tay cũng có lông như của anh, là Ê-sau. Vậy Y-sác chúc phước cho.

:「?」:「。」

yòu shuō :「 nǐ zhēn shì wǒ ér zi yǐ sǎo ma ?」 tā shuō :「 wǒ shì 。」

Người lại hỏi rằng: Aáy con thật là Ê-sau, con trai ta, phải chăng? Gia-cốp thưa: Phải, con đây.

:「。」便

yǐ sā shuō :「 nǐ dì gěi wǒ , wǒ hǎo chī wǒ ér zi de yě wèi , gěi nǐ zhù fú 。」 yǎ gè jiù dì gěi tā , tā biàn chī le , yòu ná jiǔ gěi tā , tā yě hē le 。

Y-sác bèn nói: Hãy dọn cho cha ăn lấy thịt săn của con, đặng linh hồn cha chúc phước cho con. Gia-cốp dọn cho người ăn, cũng có đem rượu cho người uống nữa.

:「。」

tā fù qīn yǐ sā duì tā shuō :「 wǒ ér , nǐ shàng qián lái yǔ wǒ qīn zuǐ 。」

Rồi Y-sác cha người nói rằng: Hỡi con! hãy lại gần và hôn cha.

tā jiù shàng qián yǔ fù qīn qīn zuǐ 。 tā fù qīn yì wén tā yī fu shàng de xiāng qì , jiù gěi tā zhù fú , shuō : wǒ ér de xiāng qì rú tóng yē hé huá cì fú zhī tián dì de xiāng qì yí yàng 。

Gia-cốp bèn lại gần và hôn người. Y-sác đánh mùi thơm của áo con, liền chúc phước cho, và nói rằng: Nầy, mùi hương của con ta Khác nào mùi hương của cánh đồng mà Đức Giê-hô-va đã ban phước cho.

yuàn shén cì nǐ tiān shàng de gān lù , dì shàng de féi tǔ , bìng xǔ duō wǔ gǔ xīn jiǔ 。

Cầu xin Đức Chúa Trời cho con sương móc trên trời xuống, Được màu mỡ của đất, Và dư dật lúa mì cùng rượu.

yuàn duō mín shì fèng nǐ , duō guó guì bài nǐ 。 yuàn nǐ zuò nǐ dì xiong de zhǔ ; nǐ mǔ qīn de ér zi xiàng nǐ guì bài 。 fán zhòu zǔ nǐ de , yuàn tā shòu zhòu zǔ ; wèi nǐ zhù fú de , yuàn tā méng fú 。

Muôn dân phải phục con, Các nước phải quì lạy trước mặt con! Hãy được quyền chủ các anh em, Các con trai của mẹ con phải quì lạy trước mặt con! Ai rủa sả con sẽ bị rủa sả lại, Ai cầu phước cho con, sẽ được ban phước lại!

yǐ sā wèi yǎ gè zhù fú yǐ bì , yǎ gè cóng tā fù qīn nà lǐ cái chū lái , tā gē ge yǐ sǎo zhèng dǎ liè huí lái ,

Vừa khi Y-sác chúc phước cho Gia-cốp xong, và vừa khi Gia-cốp lùi ra khỏi nơi cha mình, thì Ê-sau, anh người, đi săn trở về.

:「。」

yě zuò le měi wèi , ná lái gěi tā fù qīn , shuō :「 qǐng fù qīn qǐ lái , chī nǐ ér zi de yě wèi , hǎo gěi wǒ zhù fú 。」

Người cũng dọn một món ngon, dâng lên cho cha và thưa rằng: Xin dậy, ngồi ăn thịt săn của con trai cha, đặng linh hồn cha chúc phước cho con.

:「?」:「。」

tā fù qīn yǐ sā duì tā shuō :「 nǐ shì shuí ?」 tā shuō :「 wǒ shì nǐ de zhǎng zǐ yǐ sǎo 。」

Y-sác, cha người, hỏi: Con là đứa nào? Thưa rằng: Tôi là Ê-sau, con trưởng nam của cha.

:「。」

yǐ sā jiù dà dà dì zhàn jīng , shuō :「 nǐ wèi lái zhī xiān , shì shuí dé le yě wèi ná lái gěi wǒ ne ? wǒ yǐ jīng chī le , wèi tā zhù fú ; tā jiāng lái yě bì méng fú 。」

Y-sác lấy làm cảm động quá đỗi mà nói rằng: Vậy, còn đứa nào đã săn thịt rừng, và đã dâng lên cho cha đó? Trước khi con về, cha đã ăn hết rồi, và chúc phước cho nó; nó lại sẽ được ban phước vậy.

:「!」

yǐ sǎo tīng le tā fù qīn de huà , jiù fàng shēng tòng kū , shuō :「 wǒ fù a , qiú nǐ yě wèi wǒ zhù fú !」

Vừa nghe dứt lời cha, thì Ê-sau la lên một tiếng rất lớn, và rất thảm thiết mà thưa cùng cha rằng: Cha ơi! xin hãy chúc phước cho con luôn nữa!

:「。」

yǐ sā shuō :「 nǐ xiōng dì yǐ jīng yòng guǐ jì lái jiāng nǐ de fú fēn duó qù le 。」

Nhưng Y-sác lại đáp: Em con đã dùng mưu kế đến cướp sự chúc phước của con rồi.

:「。」:「?」

yǐ sǎo shuō :「 tā míng yǎ gè , qǐ bú shì zhèng duì ma ? yīn wèi tā qī piàn le wǒ liǎng cì : tā cóng qián duó le wǒ zhǎng zǐ de míng fēn , nǐ kàn , tā xiàn zài yòu duó le wǒ de fú fēn 。」 yǐ sǎo yòu shuō :「 nǐ méi yǒu liú xià wèi wǒ kě zhù de fú ma ?」

Ê-sau liền nói rằng: Có phải vì người ta gọi nó là Gia-cốp mà nó hai lần chiếm lấy vị tôi rồi chăng? Nó đã chiếm quyền trưởng nam tôi, và lại bây giờ còn chiếm sự phước lành của tôi nữa. Tiếp rằng: Cha chẳng có dành sự chúc phước chi cho tôi sao?

:「使?」

yǐ sā huí dá yǐ sǎo shuō :「 wǒ yǐ lì tā wèi nǐ de zhǔ , shǐ tā de dì xiong dōu gěi tā zuò pú rén , bìng cì tā wǔ gǔ xīn jiǔ kě yǐ yǎng shēng 。 wǒ ér , xiàn zài wǒ hái néng wèi nǐ zuò shén me ne ?」

Y-sác đáp rằng: Nầy, cha đã lập nó lên làm chủ con, và đã cho các anh em làm tôi nó; và đã dự bị lúa mì và rượu cho nó. Vậy, cha sẽ làm chi cho con đây?

:「!」

yǐ sǎo duì tā fù qīn shuō :「 fù a , nǐ zhǐ yǒu yí yàng kě zhù de fú ma ? wǒ fù a , qiú nǐ yě wèi wǒ zhù fú !」 yǐ sǎo jiù fàng shēng ér kū 。

Ê-sau thưa rằng: Cha ơi! cha chỉ có sự chúc phước đó thôi sao? Hãy chúc phước cho con với, cha! Rồi Ê-sau cất tiếng lên khóc.

tā fù qīn yǐ sā shuō : dì shàng de féi tǔ bì wèi nǐ suǒ zhù ; tiān shàng de gān lù bì wèi nǐ suǒ dé 。

Y-sác cha người, đáp rằng: Nầy, nơi con ở sẽ thiếu màu mỡ của đất, Cùng sương-móc trên trời sa xuống.

nǐ bì yǐ kào dāo jiàn dù rì , yòu bì shì fèng nǐ de xiōng dì ; dào nǐ qiáng shèng de shí hòu , bì cóng nǐ jǐng xiàng shàng zhèng kāi tā de è 。

Con sẽ nhờ gươm mới được sống. Và làm tôi tớ cho em con. Song khi con lưu lạc rày đó mai đây, Sẽ bẻ cái ách của em trên cổ con vậy.

:「。」

yǐ sǎo yīn tā fù qīn gěi yǎ gè zhù de fú , jiù yuàn hèn yǎ gè , xīn lǐ shuō :「 wèi wǒ fù qīn jū sāng de rì zi jìn le , dào nà shí hòu , wǒ yào shā wǒ de xiōng dì yǎ gè 。」

Ê-sau trở lòng ghét Gia-cốp vì cớ cha mình chúc phước cho người, bèn nói thầm trong lòng rằng: Ngày tang của cha đã hầu gần; vậy, ta sẽ giết Gia-cốp, em ta, đi.

:「

yǒu rén bǎ lì bǎi jiā dà ér zi yǐ sǎo de huà gào sù lì bǎi jiā , tā jiù dǎ fā rén qù , jiào le tā xiǎo ér zǐ yǎ gè lái , duì tā shuō :「 nǐ gē ge yǐ sǎo xiǎng yào shā nǐ , bào chóu xuě hèn 。

Họ đem lời Ê-sau, con lớn, thuật lại cùng Rê-be-ca, thì người sai gọi Gia-cốp, con út mình, mà nói rằng: Nầy, Ê-sau, anh con, toan giết con để báo thù.

xiàn zài , wǒ ér , nǐ yào tīng wǒ de huà : qǐ lái , táo wǎng hā lán 、 wǒ gē ge lā bān nà lǐ qù ,

Vậy, bây giờ, hỡi con, hãy nghe lời mẹ, đứng dậy, chạy trốn qua nhà La-ban, cậu con, tại Cha-ran,

tóng tā zhù xiē rì zi , zhí děng nǐ gē ge de nù qì xiāo le 。

và hãy ở cùng người ít lâu, cho đến lúc nào cơn giận của anh con qua hết.

便?」

nǐ gē ge xiàng nǐ xiāo le nù qì , wàng le nǐ xiàng tā suǒ zuò de shì , wǒ biàn dǎ fā rén qù bǎ nǐ cóng nà lǐ dài huí lái 。 wèi shén me yí rì sàng nǐ men èr rén ne ?」

Khi cơn giận anh con bỏ qua rồi, và nó quên việc con đã gây nên với nó, thì mẹ sẽ biểu con về. Có lẽ đâu mẹ phải chịu mất cả hai đứa trong một ngày ư?

:「?」

lì bǎi jiā duì yǐ sā shuō :「 wǒ yīn zhè hè rén de nǚ zǐ lián xìng mìng dōu yàn fán le ; tǎng ruò yǎ gè yě qǔ hè rén de nǚ zǐ wèi qī , xiàng zhè xiē yí yàng , wǒ huó zhe hái yǒu shén me yì chù ne ?」

Rê-be-ca nói cùng Y-sác rằng: Tôi đã chán, không muốn sống nữa, vì cớ mấy con gái họ Hếch. Nếu Gia-cốp cưới một trong mấy con gái họ Hếch mà làm vợ, tức một người con gái trong xứ như các đứa đó; thôi, tôi còn sống mà chi?

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.