中文圣经

SÁNG THẾ 28

đã biết 0/213

:「

yǐ sā jiào le yǎ gè lái , gěi tā zhù fú , bìng zhǔ fù tā shuō :「 nǐ bú yào qǔ jiā nán de nǚ zǐ wèi qī 。

Y-sác bèn gọi Gia-cốp, chúc phước cho và dặn rằng: Con chớ chọn một người vợ nào hết trong bọn con gái Ca-na-an.

·

nǐ qǐ shēn wǎng bā dàn · yà lán qù , dào nǐ wài zǔ bǐ tǔ lì jiā lǐ , zài nǐ mǔ jiù lā bān de nǚ ér zhōng qǔ yì nǚ wèi qī 。

Hãy đứng dậy, đi qua xứ Pha-đan-A-ram, tại nhà Bê-tu-ên, ông ngoại con, và cưới ở đó một người vợ trong các con gái của La-ban, là cậu con.

使

yuàn quán néng de shén cì fú gěi nǐ , shǐ nǐ shēng yǎng zhòng duō , chéng wéi duō zú ,

Cầu xin Đức Chúa Trời toàn năng ban phước cho con, làm con sanh sản, thêm nhiều và trở nên một đám dân đông.

使 。」

jiāng yīng xǔ yà bó lā hǎn de fú cì gěi nǐ hé nǐ de hòu yì , shǐ nǐ chéng shòu nǐ suǒ jì jū de dì wèi yè , jiù shì shén cì gěi yà bó lā hǎn de dì 。」

Cầu xin Ngài ban cho con và dòng dõi con phước lành của Aùp-ra-ham, hầu cho xứ con đã kiều ngụ sẽ làm sản nghiệp cho con, tức xứ Ngài đã ban cho Aùp-ra-ham!

·

yǐ sā dǎ fā yǎ gè zǒu le , tā jiù wǎng bā dàn · yà lán qù , dào yà lán rén bǐ tǔ lì de ér zi lā bān nà lǐ 。 lā bān shì yǎ gè 、 yǐ sǎo de mǔ jiù 。

Rồi Y-sác sai Gia-cốp đi qua xứ Pha-đan-A-ram, đến nhà La-ban, con trai Bê-tu-ên, vốn người A-ram, lại là anh của Rê-bê-ca, mẹ của Gia-cốp và Ê-sau.

·:「」,

yǐ sǎo jiàn yǐ sā yǐ jīng gěi yǎ gè zhù fú , ér qiě dǎ fā tā wǎng bā dàn · yà lán qù , zài nà lǐ qǔ qī , bìng jiàn zhù fú de shí hòu zhǔ fù tā shuō :「 bú yào qǔ jiā nán de nǚ zǐ wèi qī 」,

Ê-sau thấy Y-sác đã chúc phước cho Gia-cốp, và sai đi qua xứ Pha-đan-A-ram đặng cưới vợ; và trong lúc đang chúc phước có dặn rằng: Chớ cưới vợ trong bọn con gái Ca-na-an;

·

yòu jiàn yǎ gè tīng cóng fù mǔ de huà wǎng bā dàn · yà lán qù le ,

lại đã thấy Gia-cốp vâng lời cha mẹ đi qua xứ Pha-đan-A-ram đó,

yǐ sǎo jiù xiǎo de tā fù qīn yǐ sā kàn bù zhōng jiā nán de nǚ zǐ ,

thì biết rằng bọn con gái Ca-na-an không vừa ý Y-sác, cha mình;

便

biàn wǎng yǐ shí mǎ lì nà lǐ qù , zài tā èr qī zhī wài yòu qǔ le mǎ hā lā wèi qī 。 tā shì yà bó lā hǎn ér zi yǐ shí mǎ lì de nǚ ér , ní bài yuē de mèi zǐ 。

nên người bèn đi đến nhà ỗch-ma-ên (ngoài hai người vợ đã có rồi) cưới thêm nàng Ma-ha-lát, con gái của ỗch-ma-ên, cháu nội của Aùp-ra-ham và em của Nê-ba-giốt.

yǎ gè chū le bié shì bā , xiàng hā lán zǒu qù ;

Gia-cốp từ Bê-e-Sê-ba đi đến Cha-ran,

宿便

dào le yí gè dì fāng , yīn wèi tài yáng luò le , jiù zài nà lǐ zhù sù , biàn shí qǐ nà dì fāng de yí kuài shí tou zhěn zài tóu xià , zài nà lǐ tǎng wò shuì le ,

tới một chỗ kia, mặt trời đã khuất, thì qua đêm tại đó. Người lấy một hòn đá làm gối đầu, và nằm ngủ tại đó;

使

mèng jiàn yí gè tī zǐ lì zài dì shàng , tī zǐ de tóu dǐng zhe tiān , yǒu shén de shǐ zhě zài tī zǐ shàng , shàng qù xià lái 。

bèn chiêm bao thấy một cái thang bắc từ dưới đất, đầu đến tận trời, các thiên sứ của Đức Chúa Trời đi lên xuống trên thang đó.

:「

yē hé huá zhàn zài tī zǐ yǐ shàng , shuō :「 wǒ shì yē hé huá — nǐ zǔ yà bó lā hǎn de shén , yě shì yǐ sā de shén ; wǒ yào jiāng nǐ xiàn zài suǒ tǎng wò zhī dì cì gěi nǐ hé nǐ de hòu yì 。

Nầy, Đức Giê-hô-va ngự trên đầu thang mà phán rằng: Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Aùp-ra-ham, tổ phụ ngươi, cùng là Đức Chúa Trời của Y-sác. Ta sẽ cho ngươi và dòng dõi ngươi đất mà ngươi đang nằm ngủ đây.

西

nǐ de hòu yì bì xiàng dì shàng de chén shā nà yàng duō , bì xiàng dōng xī nán běi kāi zhǎn ; dì shàng wàn zú bì yīn nǐ hé nǐ de hòu yì dé fú 。

Dòng dõi ngươi sẽ đông như cát bụi trên mặt đất, tràn ra đến đông tây nam bắc, và các chi họ thế gian sẽ nhờ ngươi và dòng dõi ngươi mà được phước.

。」

wǒ yě yǔ nǐ tóng zài 。 nǐ wú lùn wǎng nǎ lǐ qù , wǒ bì bǎo yòu nǐ , lǐng nǐ guī huí zhè dì , zǒng bù lí qì nǐ , zhí dào wǒ chéng quán le xiàng nǐ suǒ yīng xǔ de 。」

Nầy, ta ở cùng ngươi, ngươi đi đâu, sẽ theo gìn giữ đó, và đem ngươi về xứ nầy; vì ta không bao giờ bỏ ngươi cho đến khi ta làm xong những điều ta đã hứa cùng ngươi.

:「!」

yǎ gè shuì xǐng le , shuō :「 yē hé huá zhēn zài zhè lǐ , wǒ jìng bù zhī dào !」

Gia-cốp thức giấc, nói rằng: Thật Đức Giê-hô-va hiện có trong nơi đây mà tôi không biết!

:「 殿。」

jiù jù pà , shuō :「 zhè dì fāng hé děng kě wèi ! zhè bú shì bié de , nǎi shì shén de diàn , yě shì tiān de mén 。」

Người bắt sợ và nói rằng: Chốn nầy đáng kinh khủng thay! Đây thật là đền Đức Chúa Trời, thật là cửa của trời!

yǎ gè qīng zǎo qǐ lái , bǎ suǒ zhěn de shí tou lì zuò zhù zi , jiāo yóu zài shàng miàn 。

Người dậy sớm, lấy hòn đá của mình dùng gối đầu, dựng đứng lên làm cây trụ, đổ dầu lên trên chót trụ đó;

tā jiù gěi nà dì fāng qǐ míng jiào bó tè lì ; dàn nà dì fāng qǐ xiān míng jiào lù sī 。

rồi đặt tên chốn nầy là Bê-tên; còn nguyên khi trước tên thành là Lu-xơ.

:「 穿

yǎ gè xǔ yuàn shuō :「 shén ruò yǔ wǒ tóng zài , zài wǒ suǒ xíng de lù shang bǎo yòu wǒ , yòu gěi wǒ shí wù chī , yī fu chuān ,

Gia-cốp bèn khấn vái rằng: Nếu Đức Chúa Trời ở cùng tôi, gìn giữ tôi trong lúc đi đường, cho bánh ăn, áo mặc,

使

shǐ wǒ píng píng ān ān dì huí dào wǒ fù qīn de jiā , wǒ jiù bì yǐ yē hé huá wèi wǒ de shén 。

và nếu tôi trở về bình an đến nhà cha tôi, thì Đức Giê-hô-va sẽ là Đức Chúa Trời tôi.

殿。」

wǒ suǒ lì wèi zhù zi de shí tou yě bì zuò shén de diàn ; fán nǐ suǒ cì gěi wǒ de , wǒ bì jiāng shí fēn zhī yī xiàn gěi nǐ 。」

Hòn đá đã dựng làm trụ đây sẽ là đền Đức Chúa Trời, Và tôi sẽ nộp lại cho Ngài một phần mười mọi của cải mà Ngài sẽ cho tôi.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.