中文圣经

SÁNG THẾ 31

đã biết 0/380

:「耀 。」

yǎ gè tīng jiàn lā bān de ér zi men yǒu huà shuō :「 yǎ gè bǎ wǒ men fù qīn suǒ yǒu de dōu duó le qù , bìng jiè zhe wǒ men fù qīn de , dé le zhè yí qiè de róng yào 。」

Gia-cốp được nghe lời các con La-ban nói rằng: Gia-cốp đã lấy hết gia tài cha ta, và vì nhờ của cha ta, nên mới được giàu có dường ấy.

yǎ gè jiàn lā bān de qì sè xiàng tā bù rú cóng qián le 。

Gia-cốp cũng để ý coi nét mặt cậu, nhận biết rằng người chẳng đối ở với mình như trước nữa.

:「。」

yē hé huá duì yǎ gè shuō :「 nǐ yào huí nǐ zǔ 、 nǐ fù zhī dì , dào nǐ qīn zú nà lǐ qù , wǒ bì yǔ nǐ tóng zài 。」

Đức Giê-hô-va phán cùng Gia-cốp rằng: Hãy trở về xứ của tổ phụ ngươi, chốn bà con ngươi, ta sẽ phù hộ ngươi.

yǎ gè jiù dǎ fā rén , jiào lā jié hé lì yà dào tián yě yáng qún nà lǐ lái ,

Gia-cốp bèn sai người gọi Ra-chên và Lê-a đến nơi cầm bầy súc vật của mình ngoài đồng,

:「

duì tā men shuō :「 wǒ kàn nǐ men fù qīn de qì sè xiàng wǒ bù rú cóng qián le ; dàn wǒ fù qīn de shén xiàng lái yǔ wǒ tóng zài 。

và nói cùng họ rằng: Ta thấy sắc mặt cha hai ngươi đối cùng ta chẳng còn như trước nữa, nhưng nhờ Đức Chúa Trời của cha ta phù hộ ta.

nǐ men yě zhī dào , wǒ jìn le wǒ de lì liàng fú shì nǐ men de fù qīn 。

Chính hai ngươi cũng biết rằng ta đã giúp cha hai ngươi hết sức,

nǐ men de fù qīn qī hǒng wǒ , shí cì gǎi le wǒ de gōng jià ; rán ér shén bù róng tā hài wǒ 。

còn cha hai ngươi lại khinh bạc và mười lần thay đổi công giá ta; nhưng Đức Chúa Trời không cho phép người làm hại ta chút nào.

:『』,:『』,

tā ruò shuō :『 yǒu diǎn de guī nǐ zuò gōng jià 』, yáng qún suǒ shēng de dōu yǒu diǎn ; tā ruò shuō :『 yǒu wén de guī nǐ zuò gōng jià 』, yáng qún suǒ shēng de dōu yǒu wén 。

Khi người dạy rằng: Các con chiên có đốm dùng làm công giá ngươi, quả các con chiên đều sanh con ra có đốm. Còn nếu dạy rằng: Các con chiên có sọc dùng làm công giá ngươi, quả các con chiên đều sanh ra có sọc.

zhè yàng , shén bǎ nǐ men fù qīn de shēng chù duó lái cì gěi wǒ le 。

Thế thì, Đức Chúa Trời đã bắt súc vật của cha hai ngươi cho ta đó!

yáng pèi hé de shí hòu , wǒ mèng zhōng jǔ mù yí kàn , jiàn tiào mǔ yáng de gōng yáng dōu shì yǒu wén de 、 yǒu diǎn de 、 yǒu huā bān de 。

Đang trong lúc chiên giao hiệp nhau, ta nhướng mắt lên, chiêm bao thấy các chiên đực đang giao hiệp cùng chiên cái đều có sọc, có rằn và có đốm.

使:『。』:『。』

shén de shǐ zhě zài nà mèng zhōng hū jiào wǒ shuō :『 yǎ gè 。』 wǒ shuō :『 wǒ zài zhè lǐ 。』

Thiên sứ Đức Chúa Trời phán cùng ta trong mộng rằng: Hãy Gia-cốp! Ta bèn thưa: Có tôi đây.

:『

tā shuō :『 nǐ jǔ mù guān kàn , tiào mǔ yáng de gōng yáng dōu shì yǒu wén de 、 yǒu diǎn de 、 yǒu huā bān de ; fán lā bān xiàng nǐ suǒ zuò de , wǒ dōu kàn jiàn le 。

Thiên sứ rằng: Hãy nhướng mắt lên mà nhìn: hết thảy chiên đực đang giao hiệp cùng chiên cái đều có sọc, có rằn và có đốm; vì ta đã thấy cách La-ban ăn ở cùng ngươi rồi.

!』」

wǒ shì bó tè lì de shén ; nǐ zài nà lǐ yòng yóu jiāo guò zhù zi , xiàng wǒ xǔ guò yuàn 。 xiàn jīn nǐ qǐ lái , lí kāi zhè dì , huí nǐ běn dì qù ba !』」

Ta đây là Đức Chúa Trời của Bê-tên, tức nơi ngươi đã thoa dầu đầu cây trụ và đã khấn vái ta. Bây giờ, hãy đứng dậy, ra khỏi xứ nầy và trở về xứ của bà con ngươi.

:「

lā jié hé lì yà huí dá yǎ gè shuō :「 zài wǒ men fù qīn de jiā lǐ hái yǒu wǒ men kě dé de fēn ma ? hái yǒu wǒ men de chǎn yè ma ?

Ra-chên và Lê-a đáp cùng người mà rằng: Chúng tôi còn một phần chi hay là cơ nghiệp chi nơi nhà cha chúng tôi chăng?

wǒ men bú shì bèi tā dàng zuò wài rén ma ? yīn wèi tā mài le wǒ men , tūn le wǒ men de jià zhí 。

Vì người đã gả bán chúng tôi và ăn xài hết tiền bạc bán nữa, há người chẳng đãi chúng tôi như người dưng ư?

!」

shén cóng wǒ men fù qīn suǒ duó chū lái de yí qiè cái wù , nà jiù shì wǒ men hé wǒ men hái zi men de 。 xiàn jīn fán shén suǒ fēn fù nǐ de , nǐ zhǐ guǎn qù xíng ba !」

Các tài vật mà Đức Chúa Trời đoạt nơi tay cha chúng tôi tức là của chúng tôi và của con cái chúng tôi. Vậy bây giờ, chàng hãy làm theo mọi lời Đức Chúa Trời đã phán dạy.

使

yǎ gè qǐ lái , shǐ tā de ér zi hé qī zǐ dōu qí shàng luò tuó ,

Gia-cốp bèn đứng dậy, đỡ vợ và con lên lưng lạc đà,

·

yòu dài zhe tā zài bā dàn · yà lán suǒ dé de yí qiè shēng chù hé cái wù , wǎng jiā nán dì 、 tā fù qīn yǐ sā nà lǐ qù le 。

dẫn hết thảy súc vật và của cải mình, tức súc vật mình đã gây dựng ở Pha-đan-A-ram, đặng trở về cùng Y-sác, cha mình, ở Ca-na-an.

dāng shí lā bān jiǎn yáng máo qù le , lā jié tōu le tā fù qìng jia zhōng de shén xiàng 。

Trong lúc La-ban mắc đi hớt lông chiên người, thì Ra-chên ăn cắp các pho tượng thờ trong nhà của cha mình.

yǎ gè bèi zhe yà lán rén lā bān tōu zǒu le , bìng bú gào sù tā ,

Gia-cốp gạt La-ban, vì không nói rằng, mình muốn đi trốn.

jiù dài zhe suǒ yǒu de táo pǎo 。 tā qǐ shēn guò dà hé , miàn xiàng jī liè shān xíng qù 。

Vậy, người đứng dậy, đem theo hết thảy tài vật mình, trốn đi ngang qua sông, thẳng tuốt về núi Ga-la-át.

dào dì sān rì , yǒu rén gào sù lā bān , yǎ gè táo pǎo le 。

Đến ngày thứ ba, người ta học lại cùng La-ban rằng Gia-cốp đã trốn đi rồi.

lā bān dài lǐng tā de zhòng dì xiong qù zhuī gǎn , zhuī le qī rì , zài jī liè shān jiù zhuī shàng le 。

Người bèn đem các anh em mình đuổi theo Gia-cốp trong bảy ngày đường, và theo kịp tại núi Ga-la-át.

:「。」

yè jiān , shén dào yà lán rén lā bān nà lǐ , zài mèng zhōng duì tā shuō :「 nǐ yào xiǎo xīn , bù kě yǔ yǎ gè shuō hǎo shuō dǎi 。」

Nhưng trong cơn chiêm bao lúc ban đêm, Đức Chúa Trời đến cùng La-ban, người A-ram, mà phán rằng: Dầu lành dầu dữ, thế nào ngươi khá giữ mình đừng nói chi cùng Gia-cốp hết.

lā bān zhuī shàng yǎ gè 。 yǎ gè zài shān shàng zhī dā zhàng péng ; lā bān hé tā de zhòng dì xiong yě zài jī liè shān shàng zhī dā zhàng péng 。

Vậy, La-ban theo kịp Gia-cốp. Vả, Gia-cốp đang đóng trại trên núi; La-ban và các anh em người cũng đóng trại trên núi Ga-la-át.

:「

lā bān duì yǎ gè shuō :「 nǐ zuò de shì shén me shì ne ? nǐ bèi zhe wǒ tōu zǒu le , yòu bǎ wǒ de nǚ ér men dài le qù , rú tóng yòng dāo jiàn lǔ qù de yì bān 。

La-ban nói cùng Gia-cốp rằng: Cháu đã làm chi vậy? Cháu đã gạt cậu và dẫn mấy đứa gái cậu như phu tù giặc.

nǐ wèi shén me àn àn dì táo pǎo , tōu zhe zǒu , bìng bú gào sù wǒ , jiào wǒ kě yǐ huān lè 、 chàng gē 、 jī gǔ 、 tán qín dì sòng nǐ huí qù ?

Sao trốn nhẹm, gạt và không cho cậu hay trước? Có lẽ cậu đưa đi rất vui vẻ, tiếng hát, tiếng đàn và tiếng trống phụ đưa.

yòu bù róng wǒ yǔ wài sūn hé nǚ ér qīn zuǐ ? nǐ suǒ xíng de zhēn shì yú mèi !

Cháu làm cách dại dột vậy, không để cho cậu hôn con trai và con gái cậu.

:『。』

wǒ shǒu zhōng yuán yǒu néng lì hài nǐ , zhǐ shì nǐ fù qīn de shén zuó yè duì wǒ shuō :『 nǐ yào xiǎo xīn , bù kě yǔ yǎ gè shuō hǎo shuō dǎi 。』

Tay cậu có đủ quyền làm hại cháu; nhưng Đức Chúa Trời của cha cháu đã mách bảo cùng cậu tối hôm qua rằng: Dầu lành dầu dữ, ngươi khá giữ mình đừng nói chi cùng Gia-cốp hết.

?」

xiàn zài nǐ suī rán xiǎng nǐ fù jiā , bù dé bú qù , wèi shén me yòu tōu le wǒ de shén xiàng ne ?」

Bây giờ, vì lòng cháu mong mỏi về nhà cha cháu, nên đã ra đi; nhưng cớ sao cháu lại ăn cắp các pho tượng cậu?

:「

yǎ gè huí dá lā bān shuō :「 kǒng pà nǐ bǎ nǐ de nǚ ér cóng wǒ duó qù , suǒ yǐ wǒ táo pǎo 。

Gia-cốp đáp rằng: Vì cớ tôi e cậu bắt hai người con gái lại chăng.

西。」

zhì yú nǐ de shén xiàng , nǐ zài shuí nà lǐ sōu chū lái , jiù bù róng shuí cún huó 。 dāng zhe wǒ men de zhòng dì xiong , nǐ rèn yi rèn , zài wǒ zhè lǐ yǒu shén me dōng xī shì nǐ de , jiù ná qù 。」 yuán lái yǎ gè bù zhī dào lā jié tōu le nà xiē shén xiàng 。

Nhưng tìm nơi ai được các pho tượng của cậu, thì ai đó sẽ bị chết đi! Tại trước mặt các anh em chúng ta, cậu hãy kiểm soát các món nơi tôi đi, và hãy lấy vật chi thuộc về cậu. Vả, Gia-cốp vốn không hay rằng Ra-chên đã trộm mấy pho tượng đó.

使

lā bān jìn le yǎ gè 、 lì yà , bìng liǎng gè shǐ nǚ de zhàng péng , dōu méi yǒu sōu chū lái , jiù cóng lì yà de zhàng péng chū lái , jìn le lā jié de zhàng péng 。

Vậy, La-ban vào trại Gia-cốp, trại Lê-a, trại hai người đòi, chẳng tìm được chi cả. Đoạn, ở trại Lê-a bước ra đi vào trại Ra-chên.

便

lā jié yǐ jīng bǎ shén xiàng cáng zài luò tuó de tuó lǒu lǐ , biàn zuò zài shàng tóu 。 lā bān mō biàn le nà zhàng péng , bìng méi yǒu mō zhe 。

Vả, Ra-chên có lấy mấy pho tượng đó, giấu dưới bành lạc đà, rồi ngồi lên trên. La-ban soát lục khắp trại chẳng gặp pho tượng.

:「便。」

lā jié duì tā fù qīn shuō :「 xiàn zài wǒ shēn shàng bú biàn , bù néng zài nǐ miàn qián qǐ lái , qiú wǒ zhǔ bú yào shēng qì 。」 zhè yàng , lā bān sōu xún shén xiàng , jìng méi yǒu sōu chū lái 。

Nàng bèn thưa cùng cha rằng: Vì trong mình con có việc riêng của đàn bà, nên đứng dậy rước chẳng được; xin chúa chớ giận con chi hết. Người kiếm, nhưng chẳng thấy pho tượng đâu hết.

:「

yǎ gè jiù fā nù chì zé lā bān shuō :「 wǒ yǒu shén me guò fàn , yǒu shén me zuì è , nǐ jìng zhè yàng huǒ sù dì zhuī wǒ ?

Gia-cốp bèn nổi giận rầy lộn cùng La-ban, mà rằng: Tôi có án gì, tội gì, mà cậu hằm hằm đuổi theo như vậy!

nǐ mō biàn le wǒ yí qiè de jiā jù , nǐ sōu chū shén me lái ne ? kě yǐ fàng zài nǐ wǒ dì xiong miàn qián , jiào tā men zài nǐ wǒ zhōng jiān biàn bié biàn bié 。

Cậu đã soát lục các đồ hành lý tôi, có kiếm được món chi thuộc về nhà cậu chăng? Hãy đem món đó ra trước mặt anh em tôi cùng anh em cậu, đặng họ xét đoán đôi ta.

wǒ zài nǐ jiā zhè èr shí nián , nǐ de mǔ mián yáng 、 mǔ shān yáng méi yǒu diào guò tāi 。 nǐ qún zhōng de gōng yáng , wǒ méi yǒu chī guò ;

Kìa, đã hai mươi năm tôi ăn ở nơi nhà cậu, chiên cùng dê cậu nào có sảo thai, và tôi chẳng hề ăn thịt chiên đực của bầy cậu bao giờ;

bèi yě shòu sī liè de , wǒ méi yǒu dài lái gěi nǐ , shì wǒ zì jǐ péi shàng 。 wú lùn shì bái rì , shì hēi yè , bèi tōu qù de , nǐ dōu xiàng wǒ suǒ yào 。

cũng chẳng hề đem về cho cậu một con nào bị xé; bằng có, chính tôi chịu đền đó thôi. Cậu cớ đòi luôn những con bị ăn cắp ban ngày và ăn trộm ban đêm.

wǒ bái rì shòu jìn gān rè , hēi yè shòu jìn hán shuāng , bù dé hé yǎn shuì zháo , wǒ cháng shì zhè yàng 。

Ban ngày tôi chịu nắng nồng, ban đêm chịu lạnh lùng, ngủ nào có an giấc được đâu.

wǒ zhè èr shí nián zài nǐ jiā lǐ , wèi nǐ de liǎng gè nǚ ér fú shì nǐ shí sì nián , wèi nǐ de yáng qún fú shì nǐ liù nián , nǐ yòu shí cì gǎi le wǒ de gōng jià 。

Đó trong hai mươi năm tôi ở tại nhà cậu là thế; trong mười bốn năm giúp việc, để được hai con gái cậu, và sáu năm đặng lãnh lấy bầy súc vật của cậu, mà cậu lại còn thay đổi mười lần công giá tôi.

。」

ruò bú shì wǒ fù qīn yǐ sā suǒ jìng wèi de shén , jiù shì yà bó lā hǎn de shén yǔ wǒ tóng zài , nǐ rú jīn bì dìng dǎ fā wǒ kōng shǒu ér qù 。 shén kàn jiàn wǒ de kǔ qíng hé wǒ de láo lù , jiù zài zuó yè zé bèi nǐ 。」

Nếu Đức Chúa Trời của cha tôi, Đức Chúa Trời của Aùp-ra-ham, là Đấng mà Y-sác kính sợ, không phù hộ tôi, chắc bây giờ cậu đuổi tôi ra tay không, Đức Chúa Trời đã xem thấy nỗi đau-khổ tôi cùng công việc hai tay tôi làm, nên đêm qua Ngài đã xét công bình rồi đó.

:「

lā bān huí dá yǎ gè shuō :「 zhè nǚ ér shì wǒ de nǚ ér , zhè xiē hái zi shì wǒ de hái zǐ , zhè xiē yáng qún yě shì wǒ de yáng qún ; fán zài nǐ yǎn qián de dōu shì wǒ de 。 wǒ de nǚ ér bìng tā men suǒ shēng de hái zi , wǒ jīn rì néng xiàng tā men zuò shén me ne ?

La-ban đáp cùng Gia-cốp mà rằng: Các đứa gái nầy là con của cậu; các đứa trẻ nầy là trẻ của cậu; các bầy súc vật tức là bầy của cậu, và các vật chi cháu thấy được tức của cậu hết; ngày nay cậu sẽ làm chi được cùng các con gái hai là các cháu cậu đó?

。」

lái ba ! nǐ wǒ èr rén kě yǐ lì yuē , zuò nǐ wǒ zhōng jiān de zhèng jù 。」

Vậy bây giờ, hè! chúng ta kết-ước cùng nhau, để dùng làm chứng cho cậu và cháu.

yǎ gè jiù ná yí kuài shí tou lì zuò zhù zi ,

Gia-cốp lấy một hòn đá, dựng đứng lên làm trụ;

:「。」便

yòu duì zhòng dì xiong shuō :「 nǐ men duī jù shí tou 。」 tā men jiù ná shí tou lái duī chéng yì duī , dà jiā biàn zài páng biān chī hē 。

và nói cùng các anh em mình rằng: Hãy lượm góp đá lại. Chúng bèn góp đá lại, chất thành một đống, rồi ngồi lên trên ăn bữa.

·

lā bān chēng nà shí duī wèi yī jiā ěr · sā hā dù tā , yǎ gè què chēng nà shí duī wèi jiā lèi dé 。

La-ban đặt trên đống đá đó là Y-ê-ga Sa-ha-đu-ta; còn Gia-cốp kêu là Ga-lét.

:「。」

lā bān shuō :「 jīn rì zhè shí duī zuò nǐ wǒ zhōng jiān de zhèng jù 。」 yīn cǐ zhè dì fāng míng jiào jiā lèi dé ,

La-ban nói rằng: Đống đá nầy ngày nay làm chứng cho cậu và cháu đó. Cho nên chúng gọi là Ga-lét.

:「

yòu jiào mǐ sī bā , yì sī shuō :「 wǒ men bǐ cǐ lí bié yǐ hòu , yuàn yē hé huá zài nǐ wǒ zhōng jiān jiàn chá 。

Mà cũng gọi là Mích-ba, vì La-ban có nói thêm rằng: Khi chúng ta phân cách nhau, cầu xin Đức Giê-hô-va coi sóc cậu và cháu.

。」

nǐ ruò kǔ dài wǒ de nǚ ér , yòu zài wǒ de nǚ ér yǐ wài lìng qǔ qī , suī méi yǒu rén zhī dào , què yǒu shén zài nǐ wǒ zhōng jiàn zuò jiàn zhèng 。」

Nếu cháu hành hạ các con gái cậu, nếu cưới vợ khác nữa, thì hãy giữ mình! Chẳng phải người thường soi xét ta đâu, bèn là Đức Chúa Trời làm chứng cho chúng ta vậy.

:「

lā bān yòu shuō :「 nǐ kàn wǒ zài nǐ wǒ zhōng jiān suǒ lì de zhè shí duī hé zhù zi 。

La-ban lại nói cùng Gia-cốp rằng: Nầy đống đá, nầy cây trụ mà cậu đã dựng lên giữa cậu và cháu đây.

zhè shí duī zuò zhèng jù , zhè zhù zi yě zuò zhèng jù 。 wǒ bì bú guò zhè shí duī qù hài nǐ ; nǐ yě bù kě guò zhè shí duī hé zhù zi lái hài wǒ 。

Đống đá nầy và cây trụ nầy làm chứng rằng cậu chẳng qua khỏi đây, đi đến nơi cháu, và cháu cũng chẳng vượt khỏi đây, đi đến nơi cậu, trong khi có ý muốn làm hại nhau.

。」

dàn yuàn yà bó lā hǎn de shén hé ná hè de shén , jiù shì tā men fù qīn de shén , zài nǐ wǒ zhōng jiān pàn duàn 。」 yǎ gè jiù zhǐ zhe tā fù qīn yǐ sā suǒ jìng wèi de shén qǐ shì ,

Cầu xin Đức Chúa Trời của Aùp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Na-cô, Đức Chúa Trời của cha các người đó đoán xét cho chúng ta! Gia-cốp chỉ Đấng của Y-sác, cha mình, kính sợ mà thề.

便宿

yòu zài shān shàng xiàn jì , qǐng zhòng dì xiong lái chī fàn 。 tā men chī le fàn , biàn zài shān shàng zhù sù 。

Đoạn, người dâng một của lễ tại trên núi, và mời các anh em mình dùng bánh. Vậy, chúng dùng bánh, rồi ở ban đêm trên núi.

lā bān qīng zǎo qǐ lái , yǔ tā wài sūn hé nǚ ér qīn zuǐ , gěi tā men zhù fú , huí wǎng zì jǐ de dì fāng qù le 。

La-ban dậy sớm, hôn các con trai và các con gái mình, và chúc phước cho, rồi đi trở về nhà mình.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.