中文圣经

SÁNG THẾ 32

đã biết 0/276

使

yǎ gè réng jiù xíng lù , shén de shǐ zhě yù jiàn tā 。

Gia-cốp cứ đi đường, có thiên sứ Đức Chúa Trời gặp người.

:「 」,

yǎ gè kàn jiàn tā men jiù shuō :「 zhè shì shén de jūn bīng 」, yú shì gěi nà dì fāng qǐ míng jiào mǎ hā niàn 。

Khi Gia-cốp thấy các vị nầy, nói rằng: Aáy là trại quân của Đức Chúa Trời! Nên người đặt tên chỗ đó là Ma-ha-na-im.

西

yǎ gè dǎ fā rén xiān wǎng xī ěr dì qù , jiù shì yǐ dōng dì , jiàn tā gē ge yǐ sǎo ,

Gia-cốp sai sứ giả đến trước cùng Ê-sau, anh mình, ở trong xứ Sê-i-rơ thuộc về địa-phận Ê-đôm;

:「:『

fēn fù tā men shuō :「 nǐ men duì wǒ zhǔ yǐ sǎo shuō :『 nǐ de pú rén yǎ gè zhè yàng shuō : wǒ zài lā bān nà lǐ jì jū , zhí dào rú jīn 。

người bèn dặn rằng: Các ngươi hãy thưa cùng Ê-sau, chúa ta như vầy: Gia-cốp, kẻ tôi tớ chúa, có nói như vầy rằng: Tôi đã ngụ tại nhà La-ban đến ngày nay;

。』」

wǒ yǒu niú 、 lǘ 、 yáng qún 、 pú bì , xiàn zài dǎ fā rén lái bào gào wǒ zhǔ , wèi yào zài nǐ yǎn qián méng ēn 。』」

có bò, lừa, chiên, tôi trai, tớ gái; vậy, xin sai đi nói cho chúa hay trước, hầu cho nhờ được ơn trước mặt chúa tôi.

:「。」

suǒ dǎ fā de rén huí dào yǎ gè nà lǐ , shuō :「 wǒ men dào le nǐ gē ge yǐ sǎo nà lǐ , tā dài zhe sì bǎi rén , zhèng yíng zhe nǐ lái 。」

Các sứ giả trở về nói cùng Gia-cốp rằng: Chúng tôi đã đi đến Ê-sau, anh của chủ; nầy người đang đem bốn trăm người đến để rước chủ.

便

yǎ gè jiù shèn jù pà , ér qiě chóu fán , biàn bǎ nà yǔ tā tóng zài de rén kǒu hé yáng qún 、 niú qún 、 luò tuó fēn zuò liǎng duì ,

Gia-cốp rất sợ hãi và sầu não, bèn chia các dân đi theo, cùng các bầy chiên, bò, lạc đà ra làm hai đội, mà rằng:

:「。」

shuō :「 yǐ sǎo ruò lái jī shā zhè yí duì , shèng xià de nà yí duì hái kě yǐ táo bì 。」

Nếu Ê-sau đến hãm đánh một trong hai đội, thì đội còn lại sẽ thoát được.

:「 :『。』

yǎ gè shuō :「 yē hé huá — wǒ zǔ yà bó lā hǎn de shén , wǒ fù qīn yǐ sā de shén a , nǐ céng duì wǒ shuō :『 huí nǐ běn dì běn zú qù , wǒ yào hòu dài nǐ 。』

Đoạn, Gia-cốp cầu rằng: Hỡi Đức Chúa Trời của tổ phụ Aùp-ra-ham tôi! Đức Chúa Trời của cha Y-sác tôi, tức là Đức Giê-hô-va! Ngài có phán dạy tôi rằng: Hãy trở về xứ ngươi và nơi bà con ngươi, rồi ta sẽ làm ơn cho ngươi!

nǐ xiàng pú rén suǒ shī de yí qiè cí ài hé chéng shí , wǒ yì diǎn yě bú pèi dé ; wǒ xiān qián zhī ná zhe wǒ de zhàng guò zhè yuē dàn hé , rú jīn wǒ què chéng le liǎng duì le 。

Tôi lấy làm hèn mọn không đáng chịu các ân huệ và các điều thành thực mà Ngài đã làm cho kẻ tôi tớ Ngài; vì lúc trước khi qua sông Giô-đanh chỉ có cây gậy tôi, mà ngày nay tôi lại trở nên hai đội quân nầy.

qiú nǐ jiù wǒ tuō lí wǒ gē ge yǐ sǎo de shǒu ; yīn wèi wǒ pà tā lái shā wǒ , lián qī zǐ dài ér nǚ yì tóng shā le 。

Vậy, cầu xin Đức Chúa Trời giải cứu tôi khỏi tay Ê-sau, anh tôi, vì e người đến đánh tôi và đánh luôn mẹ với con nữa.

:『使。』」

nǐ céng shuō :『 wǒ bì dìng hòu dài nǐ , shǐ nǐ de hòu yì rú tóng hǎi biān de shā , duō dé bù kě shèng shǔ 。』」

Vả, Ngài có nói rằng: Quả thật vậy, ta sẽ làm ơn cho ngươi, và làm cho dòng dõi ngươi đông như cát bãi biển, người ta sẽ không biết sao đếm được, vì đông đúc quá.

宿

dāng yè , yǎ gè zài nà lǐ zhù sù , jiù cóng tā suǒ yǒu de wù zhōng ná lǐ wù yào sòng gěi tā gē ge yǐ sǎo :

Người ở ban đêm tại đó, lấy các vật có hiện trong tay để làm một của lễ dâng cho Ê-sau, anh mình,

mǔ shān yáng èr bǎi zhī , gōng shān yáng èr shí zhī , mǔ mián yáng èr bǎi zhī , gōng mián yáng èr shí zhī ,

là hai trăm dê cái và hai chục dê đực; hai trăm chiên cái và hai chục chiên đực;

nǎi zǎi zǐ de luò tuó sān shí zhī — gè dài zhe zǎi zǐ , mǔ niú sì shí zhī , gōng niú shí zhī , mǔ lǘ èr shí pǐ , lǘ jū shí pǐ ;

ba chục lạc đà cái có con đang bú, bốn chục bò cái và mười bò đực; hai chục con lừa cái và mười lừa con.

:「使」;

měi yàng gè fēn yì qún , jiāo zài pú rén shǒu xià , jiù duì pú rén shuō :「 nǐ men yào zài wǒ qián tou guò qù , shǐ qún qún xiāng lí , yǒu kòng xián de dì fāng 」;

Rồi, giao mỗi bầy riêng ra nơi tay đầy tớ mình và dặn rằng: Các ngươi hãy đi trước ta và dẫn bầy nầy cách một khoảng đến bầy kia.

:「:『?』

yòu fēn fù jìn xiān zǒu de shuō :「 wǒ gē ge yǐ sǎo yù jiàn nǐ de shí hòu , wèn nǐ shuō :『 nǐ shì nǎ jiā de rén ? yào wǎng nǎ lǐ qù ? nǐ qián tou zhè xiē shì shuí de ?』

Người dặn tên dẫn bầy đi trước hết như vầy: Khi Ê-sau, anh ta, gặp và hỏi ngươi rằng: Ngươi ở với ai, đi đâu, và bầy súc vật trước mặt ngươi đó thuộc về ai?

:『。』」

nǐ jiù shuō :『 shì nǐ pú rén yǎ gè de , shì sòng gěi wǒ zhǔ yǐ sǎo de lǐ wù ; tā zì jǐ yě zài wǒ men hòu biān 。』」

thì hãy thưa rằng: Của Gia-cốp, kẻ tôi tớ chúa; ấy là một lễ gởi dâng cho Ê-sau, chúa tôi; và nầy, chính mình người đang theo sau.

:「

yòu fēn fù dì èr 、 dì sān , hé yí qiè gǎn qún chù de rén shuō :「 nǐ men yù jiàn yǐ sǎo de shí hòu yě yào zhè yàng duì tā shuō ;

Gia-cốp cũng dặn y lời cho tên dẫn bầy thứ nhì, thứ ba và hết thảy người theo coi chừng các bầy, và lại nói: Khi gặp Ê-sau, các ngươi hãy nhớ lời đó,

:『。』」:「。」

bìng qiě nǐ men yào shuō :『 nǐ pú rén yǎ gè zài wǒ men hòu biān 。』」 yīn yǎ gè xīn lǐ shuō :「 wǒ jiè zhe zài wǒ qián tou qù de lǐ wù jiě tā de hèn , rán hòu zài jiàn tā de miàn , huò zhě tā róng nà wǒ 。」

và nói như vầy: Nầy, Gia-cốp, kẻ tôi tớ chúa, đang theo sau chúng tôi. Vì người thầm nghĩ rằng: Mình đem lễ nầy dâng trước cho Ê-sau nguôi giận đã, rồi mình sẽ giáp mặt sau; có lẽ người tiếp rước mình một cách thuận hiệp đó.

宿

yú shì lǐ wù xiān guò qù le ; nà yè , yǎ gè zài duì zhōng zhù sù 。

Vậy, lễ nầy đem đi trước, còn người, đêm đó ở lại trại.

使

tā yè jiān qǐ lái , dài zhe liǎng gè qī zǐ , liǎng gè shǐ nǚ , bìng shí yī gè ér zi , dōu guò le yǎ bó dù kǒu ,

Ban đêm, người thức dậy, dẫn hai vợ, hai tên đòi và mười một đứa con mình đi qua rạch Gia-bốc.

xiān dǎ fā tā men guò hé , yòu dǎ fā suǒ yǒu de dōu guò qù ,

Người đem họ qua rạch, và hết thảy của cải mình qua nữa.

zhī shèng xià yǎ gè yì rén 。 yǒu yí gè rén lái hé tā shuāi jiāo , zhí dào lí míng 。

Vả, một mình Gia-cốp ở lại; thì có một người vật lộn với mình đến rạng đông.

nà rén jiàn zì jǐ shèng bú guò tā , jiù jiāng tā de dà tuǐ wō mō le yì bǎ , yǎ gè de dà tuǐ wō zhèng zài shuāi jiāo de shí hòu jiù niǔ le 。

Khi người đó thấy mình không thắng nổi, bèn đánh vào xương hông Gia-cốp; xương hông liền trặt trong khi vật lộn.

:「!」:「。」

nà rén shuō :「 tiān lí míng le , róng wǒ qù ba !」 yǎ gè shuō :「 nǐ bù gěi wǒ zhù fú , wǒ jiù bù róng nǐ qù 。」

Người đó bèn nói: Trời đã rạng đông rồi; thôi để cho ta đi; nhưng Gia-cốp đáp rằng: Tôi chẳng cho người đi đâu, nếu người không ban phước cho tôi.

:「?」:「。」

nà rén shuō :「 nǐ míng jiào shén me ?」 tā shuō :「 wǒ míng jiào yǎ gè 。」

Người đó hỏi: Tên ngươi là chi? Đáp rằng: Tên tôi là Gia-cốp.

:「 。」

nà rén shuō :「 nǐ de míng bú yào zài jiào yǎ gè , yào jiào yǐ sè liè ; yīn wèi nǐ yǔ shén yǔ rén jiào lì , dōu dé le shèng 。」

Người lại nói: Tên ngươi sẽ chẳng làm Gia-cốp nữa, nhưng tên là Y-sơ-ra-ên, vì ngươi đã có vật lộn cùng Đức Chúa Trời và người ta; ngươi đều được thắng.

:「。」:「?」

yǎ gè wèn tā shuō :「 qǐng jiāng nǐ de míng gào sù wǒ 。」 nà rén shuō :「 hé bì wèn wǒ de míng ?」 yú shì zài nà lǐ gěi yǎ gè zhù fú 。

Gia-cốp hỏi: Xin cho tôi biết tên người. Đáp rằng: Làm sao ngươi hỏi tên ta? Rồi người nầy ban phước cho Gia-cốp tại đó.

便:「 。」

yǎ gè biàn gěi nà dì fāng qǐ míng jiào pí nǔ yī lè , yì sī shuō :「 wǒ miàn duì miàn jiàn le shén , wǒ de xìng mìng réng dé bǎo quán 。」

Gia-cốp đặt tên chỗ đó là Phê-ni-ên, và nói rằng: Tôi đã thấy Đức Chúa Trời đối mặt cùng tôi và linh hồn tôi được giải cứu.

rì tóu gāng chū lái de shí hòu , yǎ gè jīng guò pí nǔ yī lè , tā de dà tuǐ jiù qué le 。

Khi qua nơi Phê-ni-ên, thấy mặt trời mọc rồi; và người đi giẹo cẳng.

gù cǐ , yǐ sè liè rén bù chī dà tuǐ wō de jīn , zhí dào jīn rì , yīn wèi nà rén mō le yǎ gè dà tuǐ wō de jīn 。

Bởi cớ đó, cho đến ngày nay dân Y-sơ-ra-ên chẳng bao giờ ăn gân bắp vế của lối xương hông; vì người đó có đánh vào xương hông Gia-cốp, nơi gân của bắp vế.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.