中文圣经

Ê-SAI 36

đã biết 0/249

西西

xī xī jiā wáng shí sì nián , yà shù wáng xī ná jī lì shàng lái gōng jī yóu dà de yí qiè jiān gù chéng , jiāng chéng gōng qǔ 。

Năm thứ mười bốn đời vua Ê-xê-chia, thì San-chê-ríp, vua A-si-ri, đến đánh các thành bền vững của Giu-đa và chiếm lấy.

西

yà shù wáng cóng lā jí chāi qiǎn lā bó shā jī shuài lǐng dà jūn wǎng yē lù sā lěng , dào xī xī jiā wáng nà lǐ qù 。 tā jiù zhàn zài shàng chí de shuǐ gōu páng , zài piāo bù dì de dà lù shang 。

Đoạn, vua A-si-ri sai Ráp-sa-kê với đạo binh lớn từ La-ki đến Giê-ru-sa-lem, nghịch cùng vua Ê-xê-chia; Ráp-sa-kê đứng tại cống ao trên, nơi đường cái ruộng thợ nện.

yú shì xī lè jiā de ér zi jiā zǎi yǐ lì yà jìng , bìng shū jì shè bó nà hé yà sà de ér zi shǐ guān yuē yà , chū lái jiàn lā bó shā jī 。

Bấy giờ, Ê-li-a-kim, con trai của Hinh-kia, làm chức cung giám, đi với thơ ký Sép-na, và sử quan Giô-a, con trai của A-sáp, mà đến cùng người.

:「西:『

lā bó shā jī duì tā men shuō :「 nǐ men qù gào sù xī xī jiā shuō , yà shù dà wáng rú cǐ shuō :『 nǐ suǒ yǐ kào de yǒu shén me kě zhàng lài de ne ?

Ráp-sa-kê nói với ba người rằng: Hãy tâu cùng vua Ê-xê-chia rằng: Đấng đại vương, tức là vua A-si-ri, phán như vầy: Sự trông cậy mà ngươi nương dựa là gì?

nǐ shuō , yǒu dǎ zhàng de jì móu hé néng lì , wǒ kàn bú guò shì xū huà 。 nǐ dào dǐ yǐ kào shuí cái bèi pàn wǒ ne ?

Ta nói rằng: mưu và sức ngươi dùng mà giao chiến chỉ là lời vô ích mà thôi! Vậy ngươi cậy ai mà dám làm phản ta?

kàn nǎ , nǐ suǒ yǐ kào de āi jí shì nà yā shāng de wěi zhàng , rén ruò kào zhè zhàng , jiù bì cì tòu tā de shǒu 。 āi jí wáng fǎ lǎo xiàng yí qiè yǐ kào tā de rén yě shì zhè yàng 。

Nầy, ngươi cậy Ê-díp-tô, ngươi lấy cây sậy đã gãy ấy làm gậy, là cây mà ai dựa vào thì nó đâm phủng tay. Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô, đối với kẻ trông cậy mình cũng là thể ấy.

西

nǐ ruò duì wǒ shuō : wǒ men yǐ kào yē hé huá — wǒ men de shén 。 xī xī jiā qǐ bú shì jiāng shén de qiū tán hé jì tán fèi qù , qiě duì yóu dà hé yē lù sā lěng de rén shuō : nǐ men dāng zài zhè tán qián jìng bài ma ?

Có lẽ các ngươi bảo ta rằng: Chúng ta cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta; nhưng ấy chẳng phải là Đấng mà Ê-xê-chia đã bỏ các nơi cao và các bàn thờ Ngài, khi truyền cho Giu-đa và Giê-ru-sa-lem rằng: Các ngươi khá thờ lạy trước bàn thờ nầy hay sao?

xiàn zài nǐ bǎ dāng tóu gěi wǒ zhǔ yà shù wáng , wǒ gěi nǐ èr qiān pǐ mǎ , kàn nǐ zhè yí miàn qí mǎ de rén gòu bu gòu 。

Vậy bây giờ, hãy đưa con tin cho chủ ta, là vua A-si-ri. Nếu ngươi tìm được đủ lính kỵ, thì ta sẽ cấp cho hai ngàn con ngựa.

ruò bù rán , zěn néng dǎ bài wǒ zhǔ chén pú zhōng zuì xiǎo de jūn zhǎng ne ? nǐ jìng yǐ kào āi jí de zhàn chē mǎ bīng ma ?

Nhưng tài nào ngươi sẽ đuổi được lấy một quan tướng rất kém trong các tôi tớ chủ ta hay sao? Mà ngươi cậy Ê-díp-tô để tìm xe binh và lính kỵ!

!』」

xiàn zài wǒ shàng lái gōng jī huǐ miè zhè dì , qǐ méi yǒu yē hé huá de yì sī ma ? yē hé huá fēn fù wǒ shuō , nǐ shàng qù gōng jī huǐ miè zhè dì ba !』」

Vả lại, há không có mạng của Đức Giê-hô-va mà ta lên đánh xứ nầy để diệt nó sao? Đức Giê-hô-va đã phán cùng ta rằng: Hãy lên đánh xứ nầy và diệt đi!

:「。」

yǐ lì yà jìng 、 shè bó nà 、 yuē yà duì lā bó shā jī shuō :「 qiú nǐ yòng yà lán yán yǔ hé pú rén shuō huà , yīn wèi wǒ men dǒng de ; bú yào yòng yóu dà yán yǔ hé wǒ men shuō huà , dá dào chéng shàng bǎi xìng de ěr zhōng 。」

Ê-li-a-kim, cùng Sép-na và Giô-a bảo Ráp-sa-kê rằng: Xin nói với tôi tớ ông bằng tiếng A-ram, vì chúng tôi hiểu tiếng ấy. Song đừng lấy tiếng Giu-đa nói cùng chúng tôi, cho dân nầy đang ở trên tường thành nó nghe.

:「尿?」

lā bó shā jī shuō :「 wǒ zhǔ chāi qiǎn wǒ lái , qǐ shì dān duì nǐ hé nǐ de zhǔ shuō zhè xiē huà ma ? bù yě shì duì zhè xiē zuò zài chéng shàng 、 yào yǔ nǐ men yì tóng chī zì jǐ fèn hē zì jǐ niào de rén shuō ma ?」

Ráp-sa-kê nói: Chủ ta sai ta truyền mấy lời đó, nào những cho chủ ngươi và cho ngươi ư? Há chẳng cũng truyền cho những người ngồi trên tường thành, là kẻ sắp phải cùng với các ngươi ăn phân uống tiểu mình ư?

:「

yú shì , lā bó shā jī zhàn zhe , yòng yóu dà yán yǔ dà shēng hǎn zhe shuō :「 nǐ men dāng tīng yà shù dà wáng de huà 。

Đoạn, Ráp-sa-kê đứng dậy, dùng tiếng Giu-đa mà nói to lên rằng: Hãy nghe lời phán của đại vương, là vua A-si-ri.

:『西

wáng rú cǐ shuō :『 nǐ men bú yào bèi xī xī jiā qī hǒng le , yīn tā bù néng zhěng jiù nǐ men 。

Vua phán như vầy: Các ngươi chớ để vua Ê-xê-chia lừa dối mình; vì người chẳng có thể cứu các ngươi.

西使

yě bú yào tīng xī xī jiā shǐ nǐ men yǐ kào yē hé huá shuō : yē hé huá bì yào zhěng jiù wǒ men , zhè chéng bì bù jiāo zài yà shù wáng de shǒu zhōng 。

Cũng chớ để vua Ê-xê-chia khuyên các ngươi trông cậy Đức Giê-hô-va mà rằng: Đức Giê-hô-va chắc sẽ cứu chúng ta, và thành nầy sẽ chẳng phó vào tay vua A-si-ri đâu!

西

bú yào tīng xī xī jiā de huà , yīn yà shù wáng rú cǐ shuō : nǐ men yào yǔ wǒ hé hǎo 。 chū lái tóu xiáng wǒ , gè rén jiù kě yǐ chī zì jǐ pú táo shù hé wú huā guǒ shù de guǒ zǐ , hē zì jǐ jǐng lǐ de shuǐ 。

Chớ nghe vua Ê-xê-chia; vì vua A-si-ri phán như vầy: Hãy hòa với ta, và ra hàng đi, thì các ngươi ai nấy sẽ được ăn trái nho trái vả của mình, uống nước giếng mình,

děng wǒ lái lǐng nǐ men dào yí gè dì fāng , yǔ nǐ men běn dì yí yàng , jiù shì yǒu wǔ gǔ hé xīn jiǔ zhī dì , yǒu liáng shí hé pú táo yuán zhī dì 。

cho tới chừng ta đến, đặng đem các ngươi vào một xứ như xứ các ngươi, tức là xứ có mạch nha và rượu mới, lúa mì và nho.

西

nǐ men yào jǐn fáng , kǒng pà xī xī jiā quàn dǎo nǐ men shuō : yē hé huá bì zhěng jiù wǒ men 。 liè guó de shén yǒu nǎ yí gè jiù tā běn guó tuō lí yà shù wáng de shǒu ne ?

Vậy, hãy giữ mình kẻo vua Ê-xê-chia dỗ dành các ngươi mà rằng: Đức Giê-hô-va sẽ giải cứu chúng ta! Vậy chớ các thần của các nước khác đã giải cứu xứ họ khỏi tay vua A-si-ri được chăng?

西

hā mǎ hé yà ěr bá de shén zài nǎ lǐ ne ? xī fǎ wǎ yīn de shén zài nǎ lǐ ne ? tā men céng jiù sā mǎ lì yà tuō lí wǒ de shǒu ma ?

Nào các thần của Ha-mát và của Aït-bát đâu tá? Nào các thần của Sê-phạt-va-im đâu tá? Các thần ấy đã cứu Sa-ma-ri ra khỏi tay ta chưa?

?』」

zhè xiē guó de shén yǒu shuí céng jiù zì jǐ de guó tuō lí wǒ de shǒu ne ? nán dào yē hé huá néng jiù yē lù sā lěng tuō lí wǒ de shǒu ma ?』」

Trong những thần của các xứ đó, có thần nào là thần đã cứu xứ mình ra khỏi tay ta? Mà Đức Giê-hô-va có thể cứu Giê-ru-sa-lem khỏi tay ta được!

:「。」

bǎi xìng jìng mò bù yán , bìng bù huí dá yí jù , yīn wèi wáng céng fēn fù shuō :「 bú yào huí dá tā 。」

Chúng làm thinh, chẳng đáp lại một lời, vì vua có truyền lịnh rằng: Các ngươi đừng đáp lại.

西

dāng xià xī lè jiā de ér zi jiā zǎi yǐ lì yà jìng hé shū jì shè bó nà , bìng yà sà de ér zi shǐ guān yuē yà , dōu sī liè yī fu , lái dào xī xī jiā nà lǐ , jiāng lā bó shā jī de huà gào sù le tā 。

Ê-li-a-kim, con trai của Hinh-kia, làm chức cung giám, cùng thơ ký Sép-na, sử quan Giô-a, con trai của A-sáp, xé áo mình ra, trở về chầu vua Ê-xê-chia, và thuật lại những lời của Ráp-sa-kê.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.