中文圣经

GIÊ-RÊ-MI 19

đã biết 0/199

:「

yē hé huá rú cǐ shuō :「 nǐ qù mǎi yáo jiàng de wǎ píng , yòu dài bǎi xìng zhōng de zhǎng lǎo hé jì sī zhōng de zhǎng lǎo ,

Đức Giê-hô-va phán rằng: Hãy đi mua một cái bình bằng đất nơi thợ gốm. Rồi kèm một vài trưởng lão trong dân và trưởng lão trong đám thầy tế lễ đi với ngươi,

西

chū qù dào xīn nèn zǐ gǔ 、 hā ěr xī de mén kǒu nà lǐ , xuān gào wǒ suǒ fēn fù nǐ de huà ,

đến nơi trũng của con trai Hi-nôm, gần đường vào cửa Gốm; tại đó, hãy rao những lời ta sẽ bảo cho.

:『 使

shuō :『 yóu dà jūn wáng hé yē lù sā lěng de jū mín nǎ , dāng tīng yē hé huá de huà 。 wàn jūn zhī yē hé huá — yǐ sè liè de shén rú cǐ shuō : wǒ bì shǐ zāi huò lín dào zhè dì fāng , fán tīng jiàn de rén dōu bì ěr míng ;

Ngươi khá nói rằng: Hỡi các vua Giu-đa, và các ngươi, là dân cư Giê-ru-sa-lem, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Nầy, ta sẽ giáng tai vạ trên nơi nầy, đến nỗi ai nghe nói cũng phải bùng tai;

使

yīn wèi tā men hé tā men liè zǔ , bìng yóu dà jūn wáng lí qì wǒ , jiāng zhè dì fāng kàn wèi píng cháng , zài zhè lǐ xiàng sù bú rèn shi de bié shén shāo xiāng , yòu shǐ zhè dì fāng mǎn le wú gū rén de xuè ,

vì chúng nó đã lìa bỏ ta, đã làm chỗ nầy nên xa lạ, đã đốt hương ở đó cho các thần khác mà chúng nó, tổ phụ chúng nó, các vua Giu-đa đều chưa từng biết, và vì chúng nó đã làm cho máu vô tội đầy nơi nầy.

yòu jiàn zhù bā lì de qiū tán , hǎo zài huǒ zhōng fén shāo zì jǐ de ér zi , zuò wéi fán jì xiàn gěi bā lì 。 zhè bú shì wǒ suǒ fēn fù de , bú shì wǒ suǒ tí shuō de , yě bú shì wǒ xīn suǒ qǐ de yì 。

Lại xây đắp các nơi cao cho Ba-anh, đặng đốt con trai mình làm của lễ thiêu dân cho Ba-anh, là đều ta chẳng hề truyền cho, chẳng hề phán đến, là điều ta chẳng hề nghĩ tới trong lòng ta.

yē hé huá shuō : yīn cǐ , rì zi jiāng dào , zhè dì fāng bú zài chēng wéi tuó fěi tè hé xīn nèn zǐ gǔ , fǎn dǎo chēng wéi shā lù gǔ 。

Vậy nên, Đức Giê-hô-va phán: Nầy, ngày đến, bấy giờ nơi nầy sẽ không gọi là Tô-phết, cũng không gọi là nơi trũng của con trai Hi-nôm nữa, mà là nơi trũng của sự đánh giết.

使使

wǒ bì zài zhè dì fāng shǐ yóu dà hé yē lù sā lěng de jì móu luò kōng , yě bì shǐ tā men zài chóu dí miàn qián dǎo yú dāo xià , bìng xún suǒ qí mìng de rén shǒu xià 。 tā men de shī shǒu , wǒ bì gěi kōng zhōng de fēi niǎo hé dì shàng de yě shòu zuò shí wù 。

Trong nơi nầy ta sẽ làm hư không mưu của Giu-đa và của Giê-ru-sa-lem. Ta sẽ làm cho chúng nó ngã bởi gươm trước mặt kẻ thù, và bởi tay của những kẻ muốn hại mạng sống chúng nó; ta sẽ phó thây chúng nó cho chim trời và loài thú đất làm đồ ăn.

使

wǒ bì shǐ zhè chéng lìng rén jīng hài chī xiào ; fán jīng guò de rén , bì yīn zhè chéng suǒ zāo de zāi jīng hài chī xiào 。

Ta sẽ khiến thành nầy làm một trò gở lạ nhạo cười; ai qua lại gần đó sẽ lấy làm lạ và cười về mọi tai vạ nó.

使。』

wǒ bì shǐ tā men zài wéi kùn jiǒng pò zhī zhōng , jiù shì chóu dí hé xún suǒ qí mìng de rén jiǒng pò tā men de shí hòu , gè rén chī zì jǐ ér nǚ de ròu hé péng yǒu de ròu 。』

Ta sẽ làm cho chúng nó ăn thịt con trai con gái mình, và ai nấy ăn thịt của bạn hữu mình, trong cơn bị vây bị khốn cực, là khi quân thù nghịch và những kẻ muốn hại mạng sống chúng nó làm khốn cho.

「 nǐ yào zài tóng qù de rén yǎn qián dǎ suì nà píng ,

Rồi thì ngươi khá đập cái bình trước mắt các người đi với mình,

:『

duì tā men shuō :『 wàn jūn zhī yē hé huá rú cǐ shuō : wǒ yào zhào yàng dǎ suì zhè mín hé zhè chéng , zhèng rú rén dǎ suì yáo jiàng de wǎ qì , yǐ zhì bù néng zài hú lún 。 bìng qiě rén yào zài tuó fěi tè zàng mái shī shǒu , shèn zhì wú chù kě zàng 。

mà nói rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Ta sẽ đập vỡ dân nầy và thành nầy cũng như đập cái bình bằng gốm, chẳng còn làm liền lại được; người ta sẽ chôn thây tại Tô-phết, cho đến thiếu chỗ để chôn.

使

yē hé huá shuō : wǒ bì xiàng zhè dì fāng hé qí zhōng de jū mín rú cǐ xíng , shǐ zhè chéng yǔ tuó fěi tè yí yàng 。

Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ đãi chốn nầy cùng dân cư nó thể ấy; ta sẽ khiến thành nầy nên như Tô-phết.

殿殿。』」

yē lù sā lěng de fáng wū hé yóu dà jūn wáng de gōng diàn shì yǐ jīng bèi diàn wū de , jiù shì tā men zài qí shàng xiàng tiān shàng de wàn xiàng shāo xiāng 、 xiàng bié shén jiāo diàn jì de gōng diàn fáng wū , dōu bì yǔ tuó fěi tè yí yàng 。』」

Các nhà của Giê-ru-sa-lem và đền đài của các vua Giu-đa đã ô uế thì sẽ như Tô-phết; thật, ấy là tại trên mái các nhà đó người ta đã đốt hương cho mọi cơ binh trên trời, và làm lễ quán cho các thần khác.

殿

yē lì mǐ cóng tuó fěi tè — jiù shì yē hé huá chà tā qù shuō yù yán de dì fāng — huí lái , zhàn zài yē hé huá diàn de yuàn zhōng , duì zhòng rén shuō :

Đoạn, Giê-rê-mi trở về từ Tô-phết, tức nơi Đức Giê-hô-va đã sai người đi nói tiên tri; người bèn đứng trong hành lang của nhà Đức Giê-hô-va, mà nói với cả dân sự rằng:

使。」

「 wàn jūn zhī yē hé huá — yǐ sè liè de shén rú cǐ shuō : wǒ bì shǐ wǒ suǒ shuō de yí qiè zāi huò lín dào zhè chéng hé shǔ chéng de yí qiè chéng yì , yīn wèi tā men yìng zhe jǐng xiàng bù tīng wǒ de huà 。」

Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Nầy, ta sẽ giáng tai nạn mà ta đã báo trước cho thành nầy và những thành thuộc về nó, vì chúng nó làm cổ mình nên cứng, hầu cho chẳng được nghe lời ta.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.