中文圣经

GIÓP 2

đã biết 0/172

yòu yǒu yì tiān , shén de zhòng zǐ lái shì lì zài yē hé huá miàn qián , sā dàn yě lái zài qí zhōng 。

Xảy ra một ngày kia, các con trai của Đức Chúa Trời đến ra mắt Đức Giê-hô-va, Sa-tan cũng có đến trong vòng chúng đặng ra mắt Đức Giê-hô-va.

:「?」:「。」

yē hé huá wèn sā dàn shuō :「 nǐ cóng nǎ lǐ lái ?」 sā dàn huí dá shuō :「 wǒ cóng dì shàng zǒu lái zǒu qù , wǎng fǎn ér lái 。」

Đức Giê-hô-va bèn phán hỏi Sa-tan rằng: Ngươi ở đâu đến? Sa-tan thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: Tôi trải qua đây đó trên đất và dạo chơi tại nơi nó.

:「 。」

yē hé huá wèn sā dàn shuō :「 nǐ céng yòng xīn chá kàn wǒ de pú rén yuē bó méi yǒu ? dì shàng zài méi yǒu rén xiàng tā wán quán zhèng zhí , jìng wèi shén , yuǎn lí è shì 。 nǐ suī jī dòng wǒ gōng jī tā , wú gù dì huǐ miè tā , tā réng rán chí shǒu tā de chún zhèng 。」

Đức Giê-hô-va lại phán hỏi Sa-tan rằng: Ngươi có nhìn thấy Gióp, tôi tớ của ta chăng? Trên đất chẳng có ai giống như người, vốn trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời, và lánh khỏi điều ác; lại người bền đỗ trong sự hoàn toàn mình, mặc dầu ngươi có giục ta phá hủy người vô cớ.

:「

sā dàn huí dá yē hé huá shuō :「 rén yǐ pí dài pí , qíng yuàn shè qù yí qiè suǒ yǒu de , bǎo quán xìng mìng 。

Sa-tan thưa lại với Đức Giê-hô-va rằng: Lấy da đền da, phàm vật chi một người có, tất sẽ trao thế cho mạng sống mình.

。」

nǐ qiě shēn shǒu shāng tā de gǔ tou hé tā de ròu , tā bì dāng miàn qì diào nǐ 。」

Nhưng bây giờ xin Chúa hãy giơ tay ra, đụng đến hại xương thịt người, ắt là người sẽ phỉ báng Chúa trước mặt.

:「。」

yē hé huá duì sā dàn shuō :「 tā zài nǐ shǒu zhōng , zhǐ yào cún liú tā de xìng mìng 。」

Đức Giê-hô-va phán với Sa-tan rằng: Kìa, người ở trong tay ngươi; nhưng chỉ hãy giữ mạng sống người.

退使

yú shì sā dàn cóng yē hé huá miàn qián tuì qù , jī dǎ yuē bó , shǐ tā cóng jiǎo zhǎng dào tóu dǐng cháng dú chuāng 。

Sa-tan bèn lui ra khỏi trước mặt Đức Giê-hô-va, hành hại Gióp một bịnh ung độc, từ bàn chân cho đến chót đầu.

yuē bó jiù zuò zài lú huī zhōng , ná wǎ piàn guā shēn tǐ 。

Gióp lấy một miếng sành đặng gãi mình, và ngồi trong đống tro.

:「 !」

tā de qī zǐ duì tā shuō :「 nǐ réng rán chí shǒu nǐ de chún zhèng ma ? nǐ qì diào shén , sǐ le ba !」

Vợ người nói với người rằng: Uûa? Oâng hãy còn bền đỗ trong sự hoàn toàn mình sao? Hãy phỉ báng Đức Chúa Trời, và chết đi!

:「 ?」

yuē bó què duì tā shuō :「 nǐ shuō huà xiàng yú wán de fù rén yí yàng 。 ài ! nán dào wǒ men cóng shén shǒu lǐ dé fú , bù yě shòu huò ma ?」 zài zhè yí qiè de shì shàng yuē bó bìng bù yǐ kǒu fàn zuì 。

Người đáp lại rằng: Ngươi nói như một người đàn bà ngu muội. Uûa sao! Sự phước mà tay Đức Chúa Trời ban cho chúng ta, chúng ta lãnh lấy, còn sự tai họa mà tay Ngài giáng trên chúng ta, lại chẳng lãnh lấy sao? Trong mọi việc đó, Gióp không phạm tội bởi môi miệng mình.

yuē bó de sān gè péng yǒu — tí màn rén yǐ lì fǎ 、 shū yà rén bǐ lè dá 、 ná mǎ rén suǒ fǎ — tīng shuō yǒu zhè yí qiè de zāi huò lín dào tā shēn shàng , gè rén jiù cóng běn chù yuē huì tóng lái , wèi tā bēi shāng , ān wèi tā 。

Vả, khi ba bạn hữu của Gióp, là Ê-li-pha người Thê-man, Binh-đát người Su-a, và Sô-pha người Na-a-ma, hay được các tai nạn đã xảy đến cho người, mỗi người bèn hẹn nhau từ xứ mình đi đến đặng chia buồn và an ủi người.

tā men yuǎn yuǎn dì jǔ mù guān kàn , rèn bù chū tā lái , jiù fàng shēng dà kū 。 gè rén sī liè wài páo , bǎ chén tǔ xiàng tiān yáng qǐ lái , luò zài zì jǐ de tóu shàng 。

Ba bạn hữu ở xa ngước mắt lên thì chẳng nhận biết người, bèn cất tiếng lên khóc, mỗi người xé áo mình, hất bụi lên trời mà vãi trên đầu mình.

tā men jiù tóng tā qī tiān qī yè zuò zài dì shàng , yí gè rén yě bú xiàng tā shuō jù huà , yīn wèi tā jí qí tòng kǔ 。

Đoạn, ba bạn ngồi xuống đất với người trong bảy ngày bảy đêm, chẳng ai nói một lời với người, vì thấy sự đau đớn người lớn lắm.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.