中文圣经

GIÔ-NA 1

đã biết 0/184

yē hé huá de huà lín dào yà mǐ tài de ér zi yuē ná , shuō :

Có lời Đức Giê-hô-va phán cho Giô-na con trai A-mi-tai như vầy:

。」

「 nǐ qǐ lái wǎng ní ní wēi dà chéng qù , xiàng qí zhōng de jū mín hū hǎn , yīn wèi tā men de è dá dào wǒ miàn qián 。」

Ngươi khá chổi dậy! Hãy đi đến thành lớn Ni-ni-ve, và kêu la nghịch cùng nó; vì tội ác chúng nó đã lên thấu trước mặt ta.

yuē ná què qǐ lái , táo wǎng tā shī qù duǒ bì yē hé huá ; xià dào yuē pà , yù jiàn yì zhī chuán , yào wǎng tā shī qù 。 tā jiù gěi le chuán jià , shàng le chuán , yào yǔ chuán shàng de rén tóng wǎng tā shī qù duǒ bì yē hé huá 。

Nhưng Giô-na chổi dậy đặng trốn qua Ta-rê-si, để lánh khỏi mặt Đức Giê-hô-va. Người xuống đến Gia-phô, gặp một chiếc tàu đi Ta-rê-si. Người trả tiền quá giang, và xuống tàu đặng đi Ta-rê-si với họ, để khỏi mặt Đức Giê-hô-va.

使

rán ér yē hé huá shǐ hǎi zhōng qǐ dà fēng , hǎi jiù kuáng fēng dà zuò , shèn zhì chuán jī hū pò huài 。

Nhưng Đức Giê-hô-va khiến gió lớn thổi trên biển; trên biển có trận bão lớn, chiếc tàu hầu vỡ.

便使

shuǐ shǒu biàn jù pà , gè rén āi qiú zì jǐ de shén 。 tā men jiāng chuán shàng de huò wù pāo zài hǎi zhōng , wèi yào shǐ chuán qīng xiē 。 yuē ná yǐ xià dào dǐ cāng , tǎng wò chén shuì 。

Những thủy thủ đều sợ hãi, ai nấy kêu cầu thần của mình. Đoạn, họ quăng những đồ đạc trong tàu xuống biển, để cho nhẹ tàu. Giô-na đã xuống dưới lòng tàu, nằm và ngủ mê.

:「使。」

chuán zhǔ dào tā nà lǐ duì tā shuō :「 nǐ zhè chén shuì de rén nǎ , wèi hé zhè yàng ne ? qǐ lái , qiú gào nǐ de shén , huò zhě shén gù niàn wǒ men , shǐ wǒ men bú zhì miè wáng 。」

Chủ tàu bèn đến gần người và bảo rằng: Hỡi người ngủ kia, làm sao vậy? Khá chờ dậy! Hãy kêu cầu Đức Chúa Trời ngươi. Có lẽ Đức Chúa Trời sẽ tưởng đến chúng ta, thì chúng ta khỏi chết.

:「。」

chuán shàng de rén bǐ cǐ shuō :「 lái ba , wǒ men chè qiān , kàn kàn zhè zāi lín dào wǒ men shì yīn shuí de yuán gù 。」 yú shì tā men chè qiān , chè chū yuē ná lái 。

Kế đó, chúng nói cùng nhau rằng: Hãy đến, chúng ta hãy bắt thăm, để cho biết tai vạ nầy đến cho chúng ta là vì cớ ai. Vậy họ bắt thăm, và thăm trúng nhằm Giô-na.

:「?」

zhòng rén duì tā shuō :「 qǐng nǐ gào sù wǒ men , zhè zāi lín dào wǒ men shì yīn shuí de yuán gù ? nǐ yǐ hé shì wèi yè ? nǐ cóng nǎ lǐ lái ? nǐ shì nǎ yì guó ? shǔ nǎ yì zú de rén ?」

Bấy giờ họ nói cùng người rằng: Khá cho chúng ta biết vì điều chi mà tai vạ nầy đến trên chúng ta. Ngươi làm nghề gì, và từ đâu mà đến? Xứ ngươi ở đâu, ngươi thuộc về dân nào?

:「 。」

tā shuō :「 wǒ shì xī bó lái rén 。 wǒ jìng wèi yē hé huá — nà chuàng zào cāng hǎi hàn dì zhī tiān shàng de shén 。」

Người trả lời rằng: Ta là người Hê-bơ-rơ, và ta kính sợ, Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời trên trời, Ngài đã làm nên biển và đất khô.

:「?」

tā men jiù dà dà jù pà , duì tā shuō :「 nǐ zuò de shì shén me shì ne ?」 tā men yǐ jīng zhī dào tā duǒ bì yē hé huá , yīn wèi tā gào sù le tā men 。

Những người ấy cả sợ, và bảo người rằng: Ngươi đã làm việc gì đó? Bấy giờ họ đã biết rằng người trốn khỏi mặt Đức Giê-hô-va; vì người đã khai ra cho họ.

:「使?」

tā men wèn tā shuō :「 wǒ men dāng xiàng nǐ zěn yàng xíng , shǐ hǎi làng píng jìng ne ?」 zhè huà shì yīn hǎi làng yuè fā fān téng 。

Vậy họ nói rằng: Chúng ta sẽ làm gì về ngươi, hầu cho biển yên lặng cho chúng ta? Vì biển càng động thêm mãi.

:「。」

tā duì tā men shuō :「 nǐ men jiāng wǒ tái qǐ lái , pāo zài hǎi zhōng , hǎi jiù píng jìng le ; wǒ zhī dào nǐ men zāo zhè dà fēng shì yīn wǒ de yuán gù 。」

Người trả lời rằng: Hãy bắt lấy ta; hãy ném ta xuống biển, thì biển yên lặng cho các anh; vì ta biết rằng ấy là vì cớ ta mà các anh đã gặp phải trận bão lớn nầy.

rán ér nà xiē rén jié lì dàng jiǎng , yào bǎ chuán lǒng àn , què shì bù néng , yīn wèi hǎi làng yuè fā xiàng tā men fān téng 。

Những người ấy bắt tay chèo vào bờ; song không được, vì biển càng nổi lên nghịch cùng họ mãi.

便:「使使。」

tā men biàn qiú gào yē hé huá shuō :「 yē hé huá a , wǒ men kěn qiú nǐ , bú yào yīn zhè rén de xìng mìng shǐ wǒ men sǐ wáng , bú yào shǐ liú wú gū xuè de zuì guī yǔ wǒ men ; yīn wèi nǐ — yē hé huá shì suí zì jǐ de yì zhǐ xíng shì 。」

Họ bèn kêu cầu Đức Giê-hô-va mà rằng: Hỡi Đức Giê-hô-va, chúng tôi nài xin Ngài, chúng tôi nài xin Ngài chớ làm cho chúng tôi chết vì cớ mạng sống của người nầy, và chớ khiến máu vô tội đổ lại trên chúng tôi! Hỡi Đức Giê-hô-va, vì chính Ngài là Đấng đã làm điều mình muốn.

tā men suì jiāng yuē ná tái qǐ , pāo zài hǎi zhōng , hǎi de kuáng làng jiù píng xī le 。

Đoạn họ bắt Giô-na, quăng xuống biển, thì sự giận dữ của biển yên lặng.

便

nà xiē rén biàn dà dà jìng wèi yē hé huá , xiàng yē hé huá xiàn jì , bìng qiě xǔ yuàn 。

Vì vậy mà những người ấy rất kính sợ Đức Giê-hô-va. Họ dâng của lễ cho Đức Giê-hô-va, và hứa nguyện cùng Ngài.

yē hé huá ān pái yì tiáo dà yú tūn le yuē ná , tā zài yú fù zhōng sān rì sān yè 。

(02-1) Đức Giê-hô-va sắm sửa một con cá lớn đặng nuốt Giô-na; Giô-na ở trong bụng cá ba ngày ba đêm.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.