中文圣经

GIÔ-SUÊ 2

đã biết 0/245

:「。」

dāng xià , nèn de ér zi yuē shū yà cóng shén tíng àn àn dǎ fā liǎng gè rén zuò tàn zǐ , fēn fù shuō :「 nǐ men qù kuī tàn nà dì hé yē lì gē 。」 yú shì èr rén qù le , lái dào yí gè jì nǚ míng jiào lā hé de jiā lǐ , jiù zài nà lǐ tǎng wò 。

Giô-suê, con trai của Nun, từ Si-tim mật sai hai người do thám mà rằng: Hãy đi do thám xứ, nhất là Giê-ri-cô. Vậy, hai người ấy đi đến nhà của một kỵ nữ tên là Ra-háp, và ngụ tại đó.

:「。」

yǒu rén gào sù yē lì gē wáng shuō :「 jīn yè yǒu yǐ sè liè rén lái dào zhè lǐ kuī tàn cǐ dì 。」

Người ta bèn tâu cùng vua Giê-ri-cô rằng: Kìa, đêm nay có người trong dân Y-sơ-ra-ên đã đến do thám xứ.

:「。」

yē lì gē wáng dǎ fā rén qù jiàn lā hé shuō :「 nà lái dào nǐ zhè lǐ 、 jìn le nǐ jiā de rén yào jiāo chū lái , yīn wèi tā men lái kuī tàn quán dì 。」

Vua Giê-ri-cô sai nói cùng Ra-háp rằng: Hãy đuổi hai người đã đến vào nhà ngươi; vì họ đến đặng do thám cả xứ.

:「

nǚ rén jiāng èr rén yǐn cáng , jiù huí dá shuō :「 nà rén guǒ rán dào wǒ zhè lǐ lái ; tā men shì nǎ lǐ lái de wǒ què bù zhī dào 。

Nhưng người đàn bà đem giấu hai người này, rồi đáp rằng: Quả thật họ đã tới nhà tôi nhưng chẳng biết ở đâu đến.

。」(

tiān hēi 、 yào guān chéng mén de shí hòu , tā men chū qù le , wǎng nǎ lǐ qù wǒ què bù zhī dào 。 nǐ men kuài kuài dì qù zhuī gǎn , jiù bì zhuī shàng 。」(

Song vào buổi tối cửa thành hầu đóng, hai người ấy đi ra tôi không biết đi đâu; hãy mau đuổi theo, vì các ngươi theo kịp được.

。)

xiān shì nǚ rén lǐng èr rén shàng le fáng dǐng , jiāng tā men cáng zài nà lǐ suǒ bǎi de má jiē zhōng 。)

Vả, nàng có biểu hai người leo lên mái nhà, giấu dưới cộng gai mà nàng rải ở trên mái.

nà xiē rén jiù wǎng yuē dàn hé de dù kǒu zhuī gǎn tā men qù le 。 zhuī gǎn tā men de rén yì chū qù , chéng mén jiù guān le 。

Những người của vua đuổi theo họ về hướng sông Giô-đanh, cho đến chỗ cạn; vừa khi những người đuổi theo đó ra khỏi thành, thì người ta đóng cửa thành.

èr rén hái méi yǒu tǎng wò , nǚ rén jiù shàng fáng dǐng , dào tā men nà lǐ ,

Trước khi hai người do thám chưa nằm ngủ, nàng leo lên mái nhà,

:「

duì tā men shuō :「 wǒ zhī dào yē hé huá yǐ jīng bǎ zhè dì cì gěi nǐ men , bìng qiě yīn nǐ men de yuán gù wǒ men dōu jīng huāng le 。 zhè dì de yí qiè jū mín zài nǐ men miàn qián xīn dōu xiāo huà le ;

mà nói rằng: Tôi biết rằng Đức Giê-hô-va đã ban cho các ông xứ này, sự kinh khủng vì cớ các ông đã bắt lấy chúng tôi, và cả dân của xứ đều sờn lòng trước mặt các ông.

使西

yīn wèi wǒ men tīng jiàn nǐ men chū āi jí de shí hòu , yē hé huá zěn yàng zài nǐ men qián miàn shǐ hóng hǎi de shuǐ gān le , bìng qiě nǐ men zěn yàng dài yuē dàn hé dōng de liǎng gè yà mó lì wáng xī hóng hé è , jiāng tā men jìn xíng huǐ miè 。

Vì chúng tôi có hay khi các ông ra khỏi xứ Ê-díp-tô, thì Đức Giê-hô-va đã khiến nước Biển đỏ bày khô trước mặt các ông, và điều các ông đã làm cho Si-hôn và Oùc, hai vua dân A-mô-rít, ở bên kia sông Giô-đanh, mà các ông đã diệt đi.

wǒ men yì tīng jiàn zhè xiē shì , xīn jiù xiāo huà le 。 yīn nǐ men de yuán gù , bìng wú yì rén yǒu dǎn qì 。 yē hé huá — nǐ men de shén běn shì shàng tiān xià dì de shén 。

Chúng tôi có hay điều đó, lòng bèn tan ra, chẳng ai trong chúng tôi còn can đảm trước mặt các ông nữa; vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ông là Đức Chúa Trời ở trên trời cao kia, và ở dưới đất thấp này.

xiàn zài wǒ jì shì ēn dài nǐ men , qiú nǐ men zhǐ zhe yē hé huá xiàng wǒ qǐ shì , yě yào ēn dài wǒ fù jiā , bìng gěi wǒ yí gè shí zài de zhèng jù ,

Vậy bây giờ, vì tôi đã làm nhân cho hai ông, thì hai ông cũng phải làm nhân lại cho nhà cha tôi; hãy chỉ Đức Giê-hô-va mà thề cùng tôi, và cho một dấu quả quyết

。」

yào jiù huó wǒ de fù mǔ 、 dì xiong 、 zǐ mèi , hé yí qiè shǔ tā men de , zhěng jiù wǒ men xìng mìng bù sǐ 。」

rằng các ông sẽ để cha mẹ, anh em, chị em tôi, và hết thảy người bà con của họ đều còn sống, cùng cứu chúng tôi khỏi chết.

:「。」

èr rén duì tā shuō :「 nǐ ruò bú xiè lòu wǒ men zhè jiàn shì , wǒ men qíng yuàn tì nǐ men sǐ 。 yē hé huá jiāng zhè dì cì gěi wǒ men de shí hòu , wǒ men bì yǐ cí ài chéng shí dài nǐ 。」

Hai người đáp rằng: Mạng chúng ta sẽ đền cho mạng nàng! Nếu nàng không cho lậu việc chúng ta ra, thì chúng ta sẽ đãi nàng cách nhân từ và thành tín khi Đức Giê-hô-va ban xứ cho chúng ta.

yú shì nǚ rén yòng shéng zi jiāng èr rén cóng chuāng hù lǐ zhuì xià qù ; yīn tā de fáng zi shì zài chéng qiáng biān shàng , tā yě zhù zài chéng qiáng shàng 。

Vậy, nàng dùng một sợi dây dòng hai người xuống nơi cửa sổ, vì nhà nàng ở tại trên vách thành.

:「。」

tā duì tā men shuō :「 nǐ men qiě wǎng shān shàng qù , kǒng pà zhuī gǎn de rén pèng jiàn nǐ men ; yào zài nà lǐ yǐn cáng sān tiān , děng zhuī gǎn de rén huí lái , rán hòu cái kě yǐ zǒu nǐ men de lù 。」

Nàng nói rằng: Hãy đi đến núi, kẻo những người đuổi theo gặp các ông chăng; hãy ẩn đó ba ngày cho đến chừng nào những người đuổi theo trở về; sau rồi các ông hãy đi đường.

:「

èr rén duì tā shuō :「 nǐ yào zhè yàng xíng 。 bù rán , nǐ jiào wǒ men suǒ qǐ de shì jiù yǔ wǒ men wú gān le 。

Vả, hai người nói cùng nàng rằng: Này thể nào chúng ta sẽ khỏi mắc lời thề mà nàng đã bắt ta thề.

线使

wǒ men lái dào zhè dì de shí hòu , nǐ yào bǎ zhè tiáo zhū hóng xiàn shéng xì zài zhuì wǒ men xià qù de chuāng hù shàng , bìng yào shǐ nǐ de fù mǔ 、 dì xiong , hé nǐ fù de quán jiā dōu jù jí zài nǐ jiā zhōng 。

Khi nào chúng ta vào xứ, nàng phải cột sợi chỉ điều này nơi cửa sổ mà nàng dòng chúng ta xuống, rồi nhóm hiệp cha mẹ, anh em, và hết thảy bà con của nàng lại trong nhà mình.

fán chū le nǐ jiā mén wǎng jiē shàng qù de , tā de zuì bì guī dào zì jǐ de tóu shàng , yǔ wǒ men wú gān le 。 fán zài nǐ jiā lǐ de , ruò yǒu rén xià shǒu hài tā , liú tā xuè de zuì jiù guī dào wǒ men de tóu shàng 。

Phàm ai trong các người đó đi ra ngoài cửa nhà nàng, thì huyết người ấy sẽ đổ lại trên đầu người, và chúng ta vô tội; nhưng nếu ai tra tay vào người nào ở cùng nàng trong nhà, thì huyết của người đó sẽ đổ lại trên đầu chúng ta.

。」

nǐ ruò xiè lòu wǒ men zhè jiàn shì , nǐ jiào wǒ men suǒ qǐ de shì jiù yǔ wǒ men wú gān le 。」

Còn nếu nàng cho lậu việc chúng ta, ắt chúng ta sẽ khỏi mắc lời mà nàng đã bắt chúng ta thề.

:「!」线

nǚ rén shuō :「 zhào nǐ men de huà xíng ba !」 yú shì dǎ fā tā men qù le , yòu bǎ zhū hóng xiàn shéng xì zài chuāng hù shàng 。

Nàng bèn đáp: Khá y lời hai ông đã nói. Đoạn, nàng cho hai người đi, và hai người liền đi. Nàng bèn cột sợi chỉ điều nơi cửa sổ.

èr rén dào shān shàng , zài nà lǐ zhù le sān tiān , děng zhe zhuī gǎn de rén huí qù le 。 zhuī gǎn de rén yí lù zhǎo tā men , què zhǎo bù zhe 。

Vậy, hai người đi đến núi, ở đó ba ngày cho đến khi những người đuổi theo mình trở về. Mấy người ấy kiếm họ cùng đường, nhưng không gặp.

èr rén jiù xià shān huí lái , guò le hé , dào nèn de ér zi yuē shū yà nà lǐ , xiàng tā shù shuō suǒ zāo yù de yí qiè shì ;

Hai người do thám bèn đi xuống núi trở về; khi đã qua sông Giô-đanh rồi, thì đến gần Giô-suê, con trai Nun, thuật cho người mọi điều đã xảy ra.

:「。」

yòu duì yuē shū yà shuō :「 yē hé huá guǒ rán jiāng nà quán dì jiāo zài wǒ men shǒu zhōng ; nà dì de yí qiè jū mín zài wǒ men miàn qián xīn dōu xiāo huà le 。」

Hai người nói cùng Giô-suê rằng: Quả thật, Đức Giê-hô-va đã phó cả xứ vào tay chúng ta; và lại, hết thảy dân của xứ đều sờn lòng trước mặt chúng ta.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.