中文圣经

QUAN ÁN 19

đã biết 0/284

dāng yǐ sè liè zhōng méi yǒu wáng de shí hòu , yǒu zhù yǐ fǎ lián shān dì nà biān de yí gè lì wèi rén , qǔ le yí gè yóu dà bó lì héng de nǚ zǐ wèi qiè 。

Nhằm lúc không có vua trong Y-sơ-ra-ên, có một người Lê-vi đến kiều ngụ nơi góc xa hơn hết của núi Eùp-ra-im, lấy một người vợ bé ở Bết-lê-hem, thành xứ Giu-đa.

qiè xíng yín lí kāi zhàng fū , huí yóu dà de bó lì héng , dào le fù jiā , zài nà lǐ zhù le sì gè yuè 。

Vợ bé người hành dâm, bỏ người, đi về nhà cha mình tại Bết-lê-hem trong xứ Giu-đa, và ở đó bốn tháng.

便

tā zhàng fu qǐ lái , dài zhe yí gè pú rén 、 liǎng pǐ lǘ qù jiàn tā , yòng hǎo huà quàn tā huí lái 。 nǚ zǐ jiù yǐn zhàng fu jìn rù fù jiā 。 tā fù jiàn le nà rén , biàn huān huān xǐ xǐ dì yíng jiē 。

Chồng nàng chổi dậy, đi theo nàng, muốn lấy lời ngọt cảm lòng nàng, đặng dẫn nàng về nhà mình. Người có đem theo một đầy tớ và hai con lừa. Nàng mời người vào nhà cha mình. Cha nàng thấy người đến, ra đón rước cách vui mừng.

宿

nà rén de yuè fù , jiù shì nǚ zǐ de fù qīn , jiāng nà rén liú xià zhù le sān tiān 。 yú shì èr rén yì tóng chī hē 、 zhù sù 。

Oâng gia người, là cha của người đàn bà trẻ, cầm người lại, và người ở nhà ông gia trong ba ngày, cùng ăn uống, và ngủ đêm tại đó.

婿:「。」

dào dì sì tiān , lì wèi rén qīng zǎo qǐ lái yào zǒu , nǚ zǐ de fù qīn duì nǚ xu shuō :「 qǐng nǐ chī diǎn fàn , jiā tiān xīn lì , rán hòu kě yǐ xíng lù 。」

Ngày thứ tư, họ dậy sớm, và khi người Lê-vi sửa soạn ra đi, cha của người đàn bà trẻ bèn nói cùng rể mình rằng: Hãy dùng một miếng bánh đặng đỡ lòng con, rồi sau các ngươi sẽ đi.

:「。」

yú shì èr rén zuò xià yì tóng chī hē 。 nǚ zǐ de fù qīn duì nà rén shuō :「 qǐng nǐ zài zhù yí yè , chàng kuài nǐ de xīn 。」

Vậy, vợ chồng ngồi ăn uống cùng nhau. Cha của người đàn bà trẻ nói cùng người chồng rằng: Con hãy định ở lại đêm nay nữa, cho lòng con vui mừng!

宿

nà rén qǐ lái yào zǒu , tā yuè fù qiáng liú tā , tā yòu zhù le yí sù 。

Người Lê-vi dậy sớm đặng đi, nhưng ông gia ép nài quá, đến đỗi người trở lại, và ở đêm đó nữa.

:「西。」

dào dì wǔ tiān , tā qīng zǎo qǐ lái yào zǒu , nǚ zǐ de fù qīn shuō :「 qǐng nǐ chī diǎn fàn , jiā tiān xīn lì , děng dào rì tou piān xī zài zǒu 。」 yú shì èr rén yì tóng chī fàn 。

Ngày thứ năm, người dậy sớm đặng ra đi, thì cha của người đàn bà trẻ nói cùng người rằng: Xin con hãy dùng bữa, nán ở lại cho đến xế chiều. Rồi vợ chồng ngồi lại ăn.

:「西宿。」

nà rén tóng tā de qiè hé pú rén qǐ lái yào zǒu , tā yuè fù , jiù shì nǚ zǐ de fù qīn , duì tā shuō :「 kàn nǎ , rì tou piān xī le , qǐng nǐ zài zhù yí yè ; tiān kuài wǎn le , kě yǐ zài zhè lǐ zhù sù , chàng kuài nǐ de xīn 。 míng tiān zǎo zǎo qǐ xíng huí jiā qù 。」

Đoạn, người Lê-vi đứng dậy đặng đi cùng vợ bé và tôi tớ mình; nhưng ông gia, là cha của người đàn bà trẻ, nói rằng: Nầy, ngày đã xế, chiều hầu gần, cha xin hai con hãy ở đêm tại đây. Ngày đã xế, hãy ở đêm lại đây, cho lòng con vui mừng. Ngày mai, hai con sẽ thức dậy sớm, đặng lên đường, và trở về nhà con.

。)

nà rén bú yuàn zài zhù yí yè , jiù bèi shàng nà liǎng pǐ lǘ , dài zhe qiè qǐ shēn zǒu le , lái dào yē bù sī de duì miàn ( yē bù sī jiù shì yē lù sā lěng 。)

Nhưng người chồng không muốn ở đêm, bèn đứng dậy và đi. Người đến tại trước Giê-bu, tức Giê-ru-sa-lem, với hai con lừa thắng; cũng có vợ bé theo người.

:「宿。」

lín jìn yē bù sī de shí hòu , rì tou kuài yào luò le , pú rén duì zhǔ rén shuō :「 wǒ men bù rú jìn zhè yē bù sī rén de chéng lǐ zhù sù 。」

Khi hai người đến gần Giê-bu, ngày đã xế chiều rồi. Kẻ tôi tớ thưa cùng chủ rằng: Hè, chúng ta hãy xây qua đặng vào trong thành dân Giê-bu nầy, và ngủ đêm tại đó.

:「」;

zhǔ rén huí dá shuō :「 wǒ men bù kě jìn bú shì yǐ sè liè rén zhù de wài bāng chéng , bù rú guò dào jī bǐ yà qù 」;

Chủ đáp rằng: Chúng ta không vào trong một thành kẻ ngoại bang, là nơi chẳng có người Y-sơ-ra-ên; chúng ta sẽ đi đến Ghi-bê-a.

:「。」

yòu duì pú rén shuō :「 wǒ men kě yǐ dào yí gè dì fāng , huò zhù zài jī bǐ yà , huò zhù zài lā mǎ 。」

Người lại nói cùng kẻ đầy tớ rằng: Hè, ta hãy rán đi đến một nơi nào ở đằng trước, hoặc Ghi-bê-a hay là Ra-ma, đặng ngủ đêm tại đó.

便

tā men jiù wǎng qián zǒu 。 jiāng dào biàn yǎ mǐn de jī bǐ yà , rì tou yǐ jīng luò le ;

Vậy, chúng cứ đi đường; khi đến gần Ghi-bê-a, là thành thuộc về Bên-gia-min, thì mặt trời lặn rồi.

宿宿

tā men jìn rù jī bǐ yà yào zài nà lǐ zhù sù , jiù zuò zài chéng lǐ de jiē shàng , yīn wèi wú rén jiē tā men jìn jiā zhù sù 。

Chúng bèn quẹo vào thành Ghi-bê-a đặng ngủ đêm tại đó. Vậy, chúng đi vào, ngồi tại ngoài phố chợ của thành; vì không ai tiếp vào nhà mình đặng cho ở ban đêm.

便

wǎn shàng , yǒu yí gè lǎo nián rén cóng tián jiān zuò gōng huí lái 。 tā yuán shì yǐ fǎ lián shān dì de rén , zhù zài jī bǐ yà ; nà dì fāng de rén què shì biàn yǎ mǐn rén 。

Vả, có một người già làm việc ở ngoài đồng, buổi chiều trở về. Người ấy vốn quê ở núi Eùp-ra-im, đang kiều ngụ tại Ghi-bê-a; song dân cư thành nầy là người Bên-gia-min.

:「?」

lǎo nián rén jǔ mù kàn jiàn kè rén zuò zài chéng lǐ de jiē shàng , jiù wèn tā shuō :「 nǐ cóng nǎ lǐ lái ? yào wǎng nǎ lǐ qù ?」

Người già ngước mắt lên, thấy kẻ hành khách nầy trên phố chợ của thành, bèn hỏi rằng: Ngươi ở đâu đến và đi đâu?

:「殿

tā huí dá shuō :「 wǒ men cóng yóu dà de bó lì héng lái , yào wǎng yǐ fǎ lián shān dì nà biān qù 。 wǒ yuán shì nà lǐ de rén , dào guò yóu dà de bó lì héng , xiàn zài wǒ wǎng yē hé huá de diàn qù , zài zhè lǐ wú rén jiē wǒ jìn tā de jiā 。

Người hành khách đáp rằng: Chúng tôi đến từ Bết-lê-hem ở xứ Giu-đa, đang đi về nơi góc xa của núi Eùp-ra-im, là nơi sanh tôi ra. Tôi đã đi đến Bết-lê-hem ở xứ Giu-đa, và nay tôi đến nhà của Đức Giê-hô-va, nhưng chẳng có ai tiếp tôi vào nhà mình!

。」

qí shí wǒ yǒu liáng cǎo kě yǐ wèi lǘ , wǒ yǔ wǒ de qiè , bìng wǒ de pú rén , yǒu bǐng yǒu jiǔ , bìng bù quē shǎo shén me 。」

Vả lại, chúng tôi có rơm và cỏ cho lừa chúng tôi, rượu và bánh cho tôi, cho con đòi và cho người trai trẻ đi theo kẻ tôi tớ ông. Chẳng thiếu gì cho chúng tôi cả.

:「。」

lǎo nián rén shuō :「 yuàn nǐ píng ān ! nǐ suǒ xū yòng de wǒ dōu gěi nǐ , zhǐ shì bù kě zài jiē shàng guò yè 。」

Người già nói: Bình an cho ngươi! Ta lãnh lo liệu mọi điều ngươi có cần dùng; ngươi sẽ chẳng ngủ đêm tại phố chợ đâu.

yú shì lǐng tā men dào jiā lǐ , wèi shàng lǘ , tā men jiù xǐ jiǎo chī hē 。

Người già bèn mời người vào nhà, và cho lừa ăn; các hành khách rửa chân, rồi ăn và uống.

:「。」

tā men xīn lǐ zhèng huān chàng de shí hòu , chéng zhōng de fěi tú wéi zhù fáng zi , lián lián kòu mén , duì fáng zhǔ lǎo rén shuō :「 nǐ bǎ nà jìn nǐ jiā de rén dài chū lái , wǒ men yào yǔ tā jiāo hé 。」

Khi chúng đang ăn vui vẻ, có những người trong thành, là kẻ gian tà, vây nhà, động cửa và nói cùng ông già, là chủ nhà, rằng: Hãy đem người đã vào nhà ngươi đó ra, cho chúng ta biết hắn.

:「

nà fáng zhǔ chū lái duì tā men shuō :「 dì xiong men nǎ , bú yào zhè yàng zuò è ; zhè rén jì rán jìn le wǒ de jiā , nǐ men jiù bú yào xíng zhè chǒu shì 。

Chủ nhà ra đến cùng chúng, mà rằng: Hỡi anh em, đừng, xin chớ làm điều ác; vì người nầy đã vào nhà tôi, chớ phạm sự sỉ nhục nầy.

。」

wǒ yǒu gè nǚ ér , hái shì chǔ nǚ , bìng yǒu zhè rén de qiè , wǒ jiāng tā men lǐng chū lái rèn píng nǐ men diàn rǔ tā men , zhǐ shì xiàng zhè rén bù kě xíng zhè yàng de chǒu shì 。」

Kìa, con gái ta còn đồng trinh, và vợ bé người kia; ta sẽ dẫn chúng nó ra ngoài cho anh em, anh em sẽ lăng nhục họ, đãi họ tùy ý thích anh em; nhưng với người nầy, chớ phạm điều sỉ nhục dường ấy.

便

nà xiē rén què bù tīng cóng tā de huà 。 nà rén jiù bǎ tā de qiè lā chū qù jiāo gěi tā men , tā men biàn yǔ tā jiāo hé , zhōng yè líng rǔ tā , zhí dào tiān sè kuài liàng cái fàng tā qù 。

Song những kẻ đó không khứng nghe người. Người khách bèn bắt vợ bé mình dẫn ra ngoài cho chúng, chúng biết nàng, lăng nhục nàng trọn đêm cho đến sáng; rồi đuổi nàng về rạng đông.

宿

tiān kuài liàng de shí hòu , fù rén huí dào tā zhǔ rén zhù sù de fáng mén qián , jiù pú dǎo zài dì , zhí dào tiān liàng 。

Gần sáng, người đàn bà đến ngã tại cửa nhà chồng nàng trọ, và nằm tại đó cho đến sáng ngày.

zǎo chén , tā de zhǔ rén qǐ lái kāi le fáng mén , chū qù yào xíng lù , bú liào nà fù rén pú dǎo zài fáng mén qián , liǎng shǒu dā zài mén kǎn shàng ;

Sáng đến, chồng nàng chổi dậy, mở cửa nhà ra, đặng lên đường mình; kìa, thấy vợ bé mình nằm sải trước cửa nhà, hai tay ở trên ngạch.

:「!」便

jiù duì fù rén shuō :「 qǐ lái , wǒ men zǒu ba !」 fù rén què bù huí dá 。 nà rén biàn jiāng tā tuó zài lǘ shàng , qǐ shēn huí běn chù qù le 。

Người nói cùng nàng rằng: Hãy đứng dậy, chúng ta hãy đi. Song nàng chẳng trả lời. Người bèn để nàng trên lừa mình, lên đường và trở về nhà.

使

dào le jiā lǐ , yòng dāo jiāng qiè de shī shēn qiè chéng shí èr kuài , shǐ rén ná zhe chuán sòng yǐ sè liè de sì jìng 。

Đến nhà rồi, người lấy một con dao, nắm vợ bé mình, chặt từng tay từng chân ra mười hai đoạn, gởi đi khắp địa phận Y-sơ-ra-ên.

:「。」

fán kàn jiàn de rén dōu shuō :「 cóng yǐ sè liè rén chū āi jí dì , zhí dào jīn rì , zhè yàng de shì méi yǒu xíng guò , yě méi yǒu jiàn guò 。 xiàn zài yīng dāng sī xiǎng , dà jiā shāng yì dāng zěn yàng bàn lǐ 。」

Hết thảy ai thấy sự đó, đều nói rằng: Từ khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô cho đến ngày nay, người ta chưa hề làm hoặc thấy việc như vậy! Khá nghĩ đến điều đó, bàn luận nhau, và giảng ý ra.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.