中文圣经

QUAN ÁN 18

đã biết 0/282

nà shí , yǐ sè liè zhōng méi yǒu wáng 。 dàn zhī pài de rén réng shì xún dì jū zhù ; yīn wèi dào nà rì zi , tā men hái méi yǒu zài yǐ sè liè zhī pài zhōng dé dì wèi yè 。

Đang lúc đó, chẳng có một vua nơi Y-sơ-ra-ên; chính hồi ấy, chi phái Đan đi tìm một địa phận đặng lập nghiệp; vì từ trước đến giờ, trong các chi phái Y-sơ-ra-ên, chi phái nầy chưa nhận được sản nghiệp nào hết.

:「。」宿

dàn rén cóng suǒ lā hé yǐ shí táo dǎ fā běn zú zhōng de wǔ gè yǒng shì , qù zǎi xì kuī tàn nà dì , fēn fù tā men shuō :「 nǐ men qù kuī tàn nà dì 。」 tā men lái dào yǐ fǎ lián shān dì , jìn le mǐ jiā de zhù zhái , jiù zài nà lǐ zhù sù 。

Vậy, người Đan chọn trong chi phái mình năm người mạnh dạn, sai từ Xô-rê-a và Ê-ta-ôn đi khắp nơi do thám xứ, và dặn họ rằng: Hãy đi do thám xứ. Chúng sang qua núi Eùp-ra-im, đến nhà Mi-ca, và ngủ đêm tại đó.

:「?」

tā men lín jìn mǐ jiā de zhù zhái , tīng chū nà shào nián lì wèi rén de kǒu yīn lái , jiù jìn qù wèn tā shuō :「 shuí lǐng nǐ dào zhè lǐ lái ? nǐ zài zhè lǐ zuò shén me ? nǐ zài zhè lǐ dé shén me ?」

Chúng đang ở gần bên nhà Mi-ca, thì nghe tiếng của gã trẻ tuổi, là người Lê-vi, bèn lại gần mà hỏi rằng: Ai dẫn ngươi đến đây? Ngươi ở đây làm chi, và ở chỗ nầy có gì?

:「。」

tā huí dá shuō :「 mǐ jiā dài wǒ rú cǐ rú cǐ , qǐng wǒ zuò jì sī 。」

Người đáp: Mi-ca có đãi tôi thế nầy, thế nầy, cấp cho tôi lương tiền, dùng tôi làm thầy tế lễ cho người.

:「 使。」

tā men duì tā shuō :「 qǐng nǐ qiú wèn shén , shǐ wǒ men zhī dào suǒ xíng de dào lù tōng dá bù tōng dá 。」

Chúng tiếp: Thế thì, hãy hỏi ý Đức Chúa Trời, để chúng ta biết con đường chúng ta đi đây sẽ có may mắn chăng.

:「。」

jì sī duì tā men shuō :「 nǐ men kě yǐ píng píng ān ān dì qù , nǐ men suǒ xíng de dào lù shì zài yē hé huá miàn qián de 。」

Thầy tế lễ đáp: Hãy đi bình an, Đức Giê-hô-va đoái đến con đường của các ngươi đi.

亿西西

wǔ rén jiù zǒu le , lái dào lā yì , jiàn nà lǐ de mín ān jū wú lǜ , rú tóng xī dùn rén ān jū yí yàng 。 zài nà dì méi yǒu rén zhǎng quán rǎo luàn tā men ; tā men lí xī dùn rén yě yuǎn , yǔ bié rén méi yǒu lái wǎng 。

Vậy, năm người ấy lên đường, đến La-ít, thấy dân sự tại đó có thói tục dân Si-đôn, ở an ổn, bình tịnh, và vững chắc. Trong kẻ quản hạt xứ đó, chẳng có ai làm cho chúng bị hại chút đỉnh nào hết; chúng vốn cách xa dân Si-đôn, chẳng có việc chi với ai cả.

:「?」

wǔ rén huí dào suǒ lā hé yǐ shí táo , jiàn tā men de dì xiong ; dì xiong wèn tā men shuō :「 nǐ men yǒu shén me huà ?」

Kế ấy, năm người trở về cùng các anh em mình tại Xô-rê-a và Ê-ta-ôn, thì anh em hỏi chúng rằng: Các anh đã làm gì?

:「

tā men huí dá shuō :「 qǐ lái , wǒ men shàng qù gōng jī tā men ba ! wǒ men yǐ jīng kuī tàn nà dì , jiàn nà dì shèn hǎo 。 nǐ men wèi hé jìng zuò bú dòng ne ? yào jí sù qián wǎng dé nà dì wèi yè , bù kě chí yán 。

Năm người đáp: Hè! hãy đi lên đánh chúng nó, vì chúng tôi có thấy xứ ấy thật lấy làm tốt nhất. Uûa kìa! anh em ở đó chẳng làm chi sao? Chớ nên biếng nhác mà đi lên đến chiếm lấy xứ ấy làm sản nghiệp.

。」

nǐ men dào le nà lǐ , bì kàn jiàn ān jū wú lǜ de mín , dì yě kuān kuò 。 shén yǐ jiāng nà dì jiāo zài nǐ men shǒu zhōng ; nà dì bǎi wù jù quán , yì wú suǒ quē 。」

Khi anh em vào xứ đó, sẽ đến cùng một dân an ổn. Xứ ấy thật rất rộng, và Đức Chúa Trời đã phó nó vào tay anh em; quả thật một nơi chẳng thiếu vật chi đất sanh sản.

yú shì dàn zú zhōng de liù bǎi rén , gè dài bīng qì , cóng suǒ lā hé yǐ shí táo qián wǎng ,

Vậy, sáu trăm người về dòng Đan cầm binh khí, đi từ Xô-rê-a và Ê-ta-ôn

···

shàng dào yóu dà de jī liè · yē lín , zài jī liè · yē lín hòu biān ān yíng 。 yīn cǐ nà dì fāng míng jiào mǎ hā ní · dàn , zhí dào jīn rì 。

lên đóng trại tại Ki-ri-át-Giê-a-rim, trong đất Giu-đa; nên chỗ đó hãy còn gọi là trại quân Đan cho đến ngày nay; nó ở phía sau Ki-ri-át-Giê-a-rim.

tā men cóng nà lǐ wǎng yǐ fǎ lián shān dì qù , lái dào mǐ jiā de zhù zhái 。

Từ đó chúng đi sang núi Eùp-ra-im và đến nhà Mi-ca.

亿:「。」

cóng qián kuī tàn lā yì dì de wǔ gè rén duì tā men de dì xiong shuō :「 zhè zhái zǐ lǐ yǒu yǐ fú dé hé jiā zhōng de shén xiàng , bìng diāo kè de xiàng yǔ zhù chéng de xiàng , nǐ men zhī dào ma ? xiàn zài nǐ men yào xiǎng yi xiǎng dāng zěn yàng xíng 。」

Bấy giờ, năm người đã đi do thám xứ La-ít cất tiếng nói cùng anh em mình rằng: Trong nhà nầy có một cái ê-phót, những thê-ra-phim, và một tượng chạm với chân bằng gang; anh em có biết chăng? Vậy, bây giờ hãy xem điều anh em phải làm.

wǔ rén jiù jìn rù mǐ jiā de zhù zhái , dào le nà shào nián lì wèi rén de fáng nèi wèn tā hǎo 。

Chúng bèn lại gần, vào nhà người Lê-vi trẻ tuổi, tức là vào nhà của Mi-ca, và chào người.

nà liù bǎi dàn rén gè dài bīng qì , zhàn zài mén kǒu 。

Sáu trăm người về dòng Đan cầm binh khí giữ ở ngoài cửa.

kuī tàn dì de wǔ gè rén zǒu jìn qù , jiāng diāo kè de xiàng 、 yǐ fú dé 、 jiā zhōng de shén xiàng , bìng zhù chéng de xiàng , dōu ná le qù 。 jì sī hé dài bīng qì de liù bǎi rén , yì tóng zhàn zài mén kǒu 。

Nhưng năm người đã đi do thám xứ, đi lên, vào nhà, và cướp lấy tượng chạm, chân bằng gang, ê-phót, và những thê-ra-phim, đang khi thầy tế lễ đứng tại cửa cùng sáu trăm người cầm binh khí.

:「?」

nà wǔ gè rén jìn rù mǐ jiā de zhù zhái , ná chū diāo kè de xiàng 、 yǐ fú dé 、 jiā zhōng de shén xiàng , bìng zhù chéng de xiàng , jì sī jiù wèn tā men shuō :「 nǐ men zuò shén me ne ?」

Năm người đó vào nhà cướp lấy các vật ấy rồi, thầy tế lễ bèn hỏi chúng nó rằng: Các ngươi làm chi vậy?

:「?」

tā men huí dá shuō :「 bú yào zuò shēng , yòng shǒu wǔ kǒu , gēn wǒ men qù ba ! wǒ men bì yǐ nǐ wèi fù 、 wèi jì sī 。 nǐ zuò yì jiā de jì sī hǎo ne ? hái shì zuò yǐ sè liè yì zú yì zhī pài de jì sī hǎo ne ?」

Chúng đáp rằng: Hãy nín đi, lấy tay bụm miệng lại, và đến cùng chúng ta, làm cha và thầy tế lễ cho chúng ta. Ngươi làm thầy tế lễ cho một nhà, hay làm thầy tế lễ cho một chi phái, một họ hàng trong Y-sơ-ra-ên, điều nào là khá hơn?

便

jì sī xīn lǐ xǐ yuè , biàn ná zhe yǐ fú dé hé jiā zhōng de shén xiàng , bìng diāo kè de xiàng , jìn rù tā men zhōng jiān 。

Thầy tế lễ mừng lòng, lấy ê-phót, những thê-ra-phim, và tượng chạm, rồi nhập với bọn ấy.

tā men jiù zhuǎn shēn lí kāi nà lǐ , qī zǐ 、 ér nǚ 、 shēng chù 、 cái wù dōu zài qián tou 。

Chúng bèn xây lại, lên đường, để cho con trẻ, súc vật, và đồ hành lý đi trước.

lí mǐ jiā de zhù zhái yǐ yuǎn , mǐ jiā de jìn lín dōu jù jí lái , zhuī gǎn dàn rén ,

Chúng đã đi xa khỏi nhà Mi-ca rồi, có những kẻ ở gần nhà Mi-ca nhóm lại đuổi theo người Đan.

:「?」

hū jiào dàn rén 。 dàn rén huí tóu wèn mǐ jiā shuō :「 nǐ jù jí zhè xǔ duō rén lái zuò shén me ne ?」

Vì chúng kêu la sau họ, người Đan xây lại mà nói cùng Mi-ca rằng: Ngươi có điều chi? Vì sao ngươi có nhóm lại những kẻ đó?

:「?」

mǐ jiā shuō :「 nǐ men jiāng wǒ suǒ zuò de shén xiàng hé jì sī dōu dài le qù , wǒ hái yǒu suǒ shèng de ma ? zěn me hái wèn wǒ shuō 『 zuò shén me 』 ne ?」

Mi-ca đáp: Các ngươi đã cướp lấy các thần ta đã làm nên, và luôn thầy tế lễ, mà đi. Còn chi lại cho ta? Sao các ngươi còn hỏi rằng ta có điều chi?

:「使。」

dàn rén duì mǐ jiā shuō :「 nǐ bú yào shǐ wǒ men tīng jiàn nǐ de shēng yīn , kǒng pà yǒu xìng bào de rén gōng jī nǐ , yǐ zhì nǐ hé nǐ de quán jiā jìn dōu sàng mìng 。」

Người Đan đáp cùng Mi-ca rằng: Chớ cho ta nghe tiếng ngươi nữa, e có người nổi giận xông hãm các ngươi, làm cho ngươi và nhà ngươi đều bị mất sự sống chăng.

dàn rén hái shì zǒu tā men de lù 。 mǐ jiā jiàn tā men de shì lì bǐ zì jǐ qiáng shèng , jiù zhuǎn shēn huí jiā qù le 。

Bấy giờ người Đan cứ đi đường, còn Mi-ca thấy chúng mạnh hơn mình, bèn trở về nhà mình.

亿

dàn rén jiāng mǐ jiā suǒ zuò de shén xiàng hé tā de jì sī dōu dài dào lā yì , jiàn ān jū wú lǜ de mín , jiù yòng dāo shā le nà mín , yòu fàng huǒ shāo le nà chéng ,

Aáy vậy, sau khi đã cướp lấy vật của Mi-ca đã chế ra, và thầy tế lễ mà người đã có trong nhà mình, thì chúng xông vào dân La-ít, là một dân ở bình tịnh, vững chắc, lấy gươm giết dân đó, rồi châm lửa đốt thành đi.

西·

bìng wú rén dā jiù ; yīn wèi lí xī dùn yuǎn , tā men yòu yǔ bié rén méi yǒu lái wǎng 。 chéng zài píng yuán , nà píng yuán kào jìn bó · lì hé 。 dàn rén yòu zài nà lǐ xiū chéng jū zhù ,

Chẳng có ai đến tiếp cứu dân La-ít, vì thành ở xa Si-đôn, và không giao thiệp với ai hết; nó ở trong trũng chạy về hướng Bết-Rê-hóp. Người Đan xây đắp thành lại, và ở tại đó;

亿

zhào zhe tā men shǐ zǔ yǐ sè liè zhī zǐ dàn de míng zì , gěi nà chéng qǐ míng jiào dàn ; yuán xiān nà chéng míng jiào lā yì 。

lấy tên Đan, là tổ phụ mình, con trai của Y-sơ-ra-ên, mà đặt cho thành; còn trước kia tên thành ấy là La-ít.

西

dàn rén jiù wèi zì jǐ shè lì nà diāo kè de xiàng 。 mó xī de sūn zi 、 gé shùn de ér zi yuē ná dān , hé tā de zǐ sūn zuò dàn zhī pài de jì sī , zhí dào nà dì zāo lǔ lüè de rì zi 。

Đoạn, người Đan dựng tượng chạm, rồi Giô-na-than, con trai Ghẹt-sôn, cháu Môi-se, và hết thảy hậu tự của người, đều làm thầy tế lễ trong chi phái Đan cho đến ngày chúng bị đày khỏi xứ.

殿

shén de diàn zài shì luó duō shǎo rì zi , dàn rén wéi zì jǐ shè lì mǐ jiā suǒ diāo kè de xiàng yě zài dàn duō shǎo rì zi 。

Chúng giữ tượng chạm của Mi-ca làm nên trọn trong lúc đền của Đức Chúa Trời ở tại Si-lô.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.