中文圣经

LU-CA 24

đã biết 0/372

qī rì de tóu yí rì , lí míng de shí hòu , nà xiē fù nǚ dài zhe suǒ yù bèi de xiāng liào lái dào fén mù qián ,

Ngày thứ nhất trong tuần lễ, khi mờ sáng, các người đàn bà ấy lấy thuốc thơm đã sửa soạn đem đến mồ Ngài.

kàn jiàn shí tou yǐ jīng cóng fén mù gǔn kāi le ,

Họ thấy hòn đá đã lăn ra khỏi cửa mồ;

tā men jiù jìn qù , zhǐ shì bú jiàn zhǔ yē sū de shēn tǐ 。

nhưng bước vào, không thấy xác Đức Chúa Jêsus.

zhèng zài cāi yí zhī jiān , hū rán yǒu liǎng gè rén zhàn zài páng biān , yī fu fàng guāng 。

Đang khi không biết nghĩ làm sao, xảy có hai người nam mặt áo sáng như chớp, hiện ra trước mặt họ.

:「

fù nǚ men jīng pà , jiāng liǎn fú dì 。 nà liǎng gè rén jiù duì tā men shuō :「 wèi shén me zài sǐ rén zhōng zhǎo huó rén ne ?

Họ đang thất kinh, úp mặt xuống đất; thì hai người ấy nói rằng: Sao các ngươi tìm người sống trong vòng kẻ chết?

tā bú zài zhè lǐ , yǐ jīng fù huó le 。 dāng jì niàn tā hái zài jiā lì lì de shí hòu zěn yàng gào sù nǐ men ,

Ngài không ở đây đâu, song Ngài đã sống lại. Hãy nhớ khi Ngài còn ở xứ Ga-li-lê, phán cùng các ngươi thể nào,

:『。』」

shuō :『 rén zǐ bì xū bèi jiāo zài zuì rén shǒu lǐ , dīng zài shí zì jià shàng , dì sān rì fù huó 。』」

Ngài đã phán rằng: Con người phải bị nộp trong tay kẻ có tội, phải bị đóng đinh trên cây thập tự, và ngày thứ ba phải sống lại.

tā men jiù xiǎng qǐ yē sū de huà lái ,

Họ bèn nhớ lại những lời Đức Chúa Jêsus đã phán.

便使

biàn cóng fén mù nà lǐ huí qù , bǎ zhè yí qiè de shì gào sù shí yī gè shǐ tú hé qí yú de rén 。

Họ ở mồ trở về, rao truyền mọi sự ấy cho mười một sứ đồ và những người khác.

使

nà gào sù shǐ tú de jiù shì mǒ dà lā de mǎ lì yà hé yuē yà ná , bìng yǎ gè de mǔ qīn mǎ lì yà , hái yǒu yǔ tā men zài yí chù de fù nǚ 。

Aáy là Ma-ri Ma-đơ-len, Gian-nơ, và Ma-ri mẹ của Gia-cơ, cùng các đàn bà khác đi với họ đã rao truyền như vậy cho các sứ đồ.

使

tā men zhè xiē huà , shǐ tú yǐ wéi shì hú yán , jiù bù xiāng xìn 。

Song các sứ đồ không tin, cho lời ấy như là hư không.

bǐ dé qǐ lái , pǎo dào fén mù qián , dī tóu wǎng lǐ kàn , jiàn xì má bù dú zài yí chù , jiù huí qù le , xīn lǐ xī qí suǒ chéng de shì 。

Dầu vậy, Phi-e-rơ đứng dậy, chạy đến mồ, cúi xuống mà dòm, chỉ thấy vải liệm ở trên đất, đoạn về nhà, lạ lùng cho việc đã xảy ra.

zhèng dāng nà rì , mén tú zhōng yǒu liǎng gè rén wǎng yí gè cūn zǐ qù ; zhè cūn zǐ míng jiào yǐ mǎ wǔ sī , lí yē lù sā lěng yuē yǒu èr shí wǔ lǐ 。

Cũng trong ngày ấy, có hai môn đồ đi đến làng kia, gọi là Em-ma-út, cách thành Giê-ru-sa-lem sáu mươi ếch-ta-đơ;

tā men bǐ cǐ tán lùn suǒ yù jiàn de zhè yí qiè shì 。

họ đàm luận về những sự đã xảy ra.

zhèng tán lùn xiāng wèn de shí hòu , yē sū qīn zì jiù jìn tā men , hé tā men tóng háng ;

Đang khi nói và cãi lẽ nhau, chính Đức Chúa Jêsus đến gần cùng đi đường với họ.

zhǐ shì tā men de yǎn jīng mí hu le , bú rèn shi tā 。

nhưng mắt hai người ấy bị che khuất không nhìn biết Ngài được.

:「?」

yē sū duì tā men shuō :「 nǐ men zǒu lù bǐ cǐ tán lùn de shì shén me shì ne ?」 tā men jiù zhàn zhù , liǎn shàng dài zhe chóu róng 。

Ngài phán cùng họ rằng: Các ngươi đang đi đường, nói chuyện gì cùng nhau vậy? Họ dừng lại, buồn bực lắm.

:「?」

èr rén zhōng yǒu yí gè míng jiào gé liú bā de huí dá shuō :「 nǐ zài yē lù sā lěng zuò kè , hái bù zhī dào zhè jǐ tiān zài nà lǐ suǒ chū de shì ma ?」

Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-ba, trả lời rằng: Có phải chỉ ngươi là khách lạ ở thành Giê-ru-sa-lem, không hay việc đã xảy đến tại đó cách mấy bữa rày sao?

:「?」:「

yē sū shuō :「 shén me shì ne ?」 tā men shuō :「 jiù shì ná sā lè rén yē sū de shì 。 tā shì gè xiān zhī , zài shén hé zhòng bǎi xìng miàn qián , shuō huà xíng shì dōu yǒu dà néng 。

Ngài hỏi rằng: Việc gì vậy? Họ trả lời rằng: Aáy là việc đã xảy ra cho Jêsus Na-xa-rét, một đấng tiên tri, có quyền phép trong việc làm và trong lời nói, trước mặt Đức Chúa Trời và cả chúng dân;

jì sī cháng hé wǒ men de guān fǔ jìng bǎ tā jiě qù , dìng le sǐ zuì , dīng zài shí zì jià shàng 。

làm sao mà các thầy tế lễ cả cùng các quan đề hình ta đã nộp Ngài để xử tử, và đã đóng đinh trên cây thập tự.

dàn wǒ men sù lái suǒ pàn wàng 、 yào shú yǐ sè liè mín de jiù shì tā ! bú dàn rú cǐ , ér qiě zhè shì chéng jiù , xiàn zài yǐ jīng sān tiān le 。

Chúng tôi trông mong Ngài sẽ cứu lấy dân Y-sơ-ra-ên; dầu thể ấy, việc xảy ra đã được ba ngày rồi.

使

zài zhě , wǒ men zhōng jiān yǒu jǐ gè fù nǚ shǐ wǒ men jīng qí ; tā men qīng zǎo dào le fén mù nà lǐ ,

Thật có mấy người đàn bà trong vòng chúng tôi đã làm cho chúng tôi lấy làm lạ lắm: khi mờ sáng, họ đến mồ,

使

bú jiàn tā de shēn tǐ , jiù huí lái gào sù wǒ men , shuō kàn jiàn le tiān shǐ xiǎn xiàn , shuō tā huó le 。

không thấy xác Ngài, thì về báo rằng có thiên sứ hiện đến, nói Ngài đang sống.

。」

yòu yǒu wǒ men de jǐ gè rén wǎng fén mù nà lǐ qù , suǒ yù jiàn de zhèng rú fù nǚ men suǒ shuō de , zhǐ shì méi yǒu kàn jiàn tā 。」

Có mấy người trong vòng chúng tôi cũng đi thăm mồ, thấy mọi điều y như lời họ nói; còn Ngài thì không thấy.

:「

yē sū duì tā men shuō :「 wú zhī de rén nǎ , xiān zhī suǒ shuō de yí qiè huà , nǐ men de xīn xìn dé tài chí dùn le 。

Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Hỡi những kẻ dại dột, có lòng chậm tin lời các đấng tiên tri nói!

耀?」

jī dū zhè yàng shòu hài , yòu jìn rù tā de róng yào , qǐ bú shì yīng dāng de ma ?」

Há chẳng phải Đấng Christ chịu thương khó thể ấy, mới được vào sự vinh hiển mình sao?

西

yú shì cóng mó xī hé zhòng xiān zhī qǐ , fán jīng shàng suǒ zhǐ zhe zì jǐ de huà dōu gěi tā men jiǎng jiě míng bái le 。

Đoạn, Ngài bắt đầu từ Môi-se rồi kế đến mọi đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh.

jiāng jìn tā men suǒ qù de cūn zǐ , yē sū hǎo xiàng hái yào wǎng qián xíng ,

Khi hai người đi gần đến làng mình định đi, thì Đức Chúa Jêsus dường như muốn đi xa hơn nữa.

:「西!」

tā men què qiáng liú tā , shuō :「 shí hòu wǎn le , rì tou yǐ jīng píng xī le , qǐng nǐ tóng wǒ men zhù xià ba !」 yē sū jiù jìn qù , yào tóng tā men zhù xià 。

Nhưng họ ép Ngài dừng lại, mà thưa rằng: Xin ở lại với chúng tôi; vì trời đã xế chiều hầu tối. Vậy, Ngài vào ở lại cùng họ.

dào le zuò xí de shí hòu , yē sū ná qǐ bǐng lái , zhù xiè le , bò kāi , dì gěi tā men 。

Đang khi Ngài ngồi ăn cùng hai người, thì lấy bánh, chúc tạ, đoạn, bẻ ra cho họ.

tā men de yǎn jīng míng liàng le , zhè cái rèn chū tā lái 。 hū rán yē sū bú jiàn le 。

Mắt họ bèn mở ra, mà nhìn biết Ngài; song Ngài thoạt biến đi không thấy.

:「?」

tā men bǐ cǐ shuō :「 zài lù shang , tā hé wǒ men shuō huà , gěi wǒ men jiǎng jiě shèng jīng de shí hòu , wǒ men de xīn qǐ bú shì huǒ rè de ma ?」

hai người nói cùng nhau rằng: Khi nãy đi đường, Ngài nói cùng chúng ta và cắt nghĩa Kinh Thánh, lòng chúng ta há chẳng nóng nảy sao?

使

tā men jiù lì shí qǐ shēn , huí yē lù sā lěng qù , zhèng yù jiàn shí yī gè shǐ tú hé tā men de tóng rén jù jí zài yí chù ,

Nội giờ đó, họ liền đứng dậy, trở về thành Giê-ru-sa-lem, gặp mười một sứ đồ cùng các môn đồ khác đang nhóm lại,

:「西。」

shuō :「 zhǔ guǒ rán fù huó , yǐ jīng xiàn gěi xī mén kàn le 。」

nói với họ rằng: Chúa thật đã sống lại, và hiện ra với Si-môn.

liǎng gè rén jiù bǎ lù shang suǒ yù jiàn , hé bò bǐng de shí hòu zěn me bèi tā men rèn chū lái de shì , dōu shù shuō le yí biàn 。

Rồi hai người thuật lại sự đã xảy đến khi đi đường, và nhìn biết Ngài lúc bẻ bánh ra là thể nào.

:「!」

zhèng shuō zhè huà de shí hòu , yē sū qīn zì zhàn zài tā men dāng zhōng , shuō :「 yuàn nǐ men píng ān !」

Môn đồ đang nói chuyện như vậy, chính Đức Chúa Jêsus hiện ra giữa đó mà phán rằng: Bình an cho các ngươi!

tā men què jīng huāng hài pà , yǐ wéi suǒ kàn jiàn de shì hún 。

Nhưng môn đồ đều sửng sốt rụng rời, tưởng thấy thần.

:「

yē sū shuō :「 nǐ men wèi shén me chóu fán ? wèi shén me xīn lǐ qǐ yí niàn ne ?

Ngài phán rằng: Sao các ngươi bối rối, và sao trong lòng các ngươi nghi làm vậy?

。」

nǐ men kàn wǒ de shǒu , wǒ de jiǎo , jiù zhī dào shí zài shì wǒ le 。 mō wǒ kàn kàn ! hún wú gǔ wú ròu , nǐ men kàn , wǒ shì yǒu de 。」

Hãy xem tay chân ta: thật chính ta. Hãy rờ đến ta, và hãy xem; thần thì không có thịt xương, mà các ngươi thấy ta có.

shuō le zhè huà , jiù bǎ shǒu hé jiǎo gěi tā men kàn 。

Đang phán vậy, Ngài giơ tay và chân ra cho xem.

:「?」

tā men zhèng xǐ dé bù gǎn xìn , bìng qiě xī qí ; yē sū jiù shuō :「 nǐ men zhè lǐ yǒu shén me chī de méi yǒu ?」

Nhưng vì cớ môn đồ vui mừng nên chưa tin chắc, và lấy làm lạ, thì Ngài phán rằng: ỳ đây các ngươi có gì ăn không?

便

tā men biàn gěi tā yí piàn shāo yú 。

Môn đồ dâng cho Ngài một miếng cá nướng.

tā jiē guò lái , zài tā men miàn qián chī le 。

Ngài nhận lấy mà ăn trước mặt môn đồ.

:「西。」

yē sū duì tā men shuō :「 zhè jiù shì wǒ cóng qián yǔ nǐ men tóng zài zhī shí suǒ gào sù nǐ men de huà shuō : mó xī de lǜ fǎ 、 xiān zhī de shū , hé shī piān shàng suǒ jì de , fán zhǐ zhe wǒ de huà dōu bì xū yìng yàn 。」

Đoạn, Ngài phán rằng: Aáy đó là điều mà khi ta còn ở với các ngươi, ta bảo các ngươi rằng mọi sự đã chép về ta trong luật pháp Môi-se, các sách tiên tri, cùng các Thi Thiên phải được ứng nghiệm.

使

yú shì yē sū kāi tā men de xīn qiào , shǐ tā men néng míng bái shèng jīng ,

Bấy giờ Ngài mở trí cho môn đồ được hiểu Kinh Thánh.

:「

yòu duì tā men shuō :「 zhào jīng shàng suǒ xiě de , jī dū bì shòu hài , dì sān rì cóng sǐ lǐ fù huó ,

Ngài phán: Có lời chép rằng Đấng Christ phải chịu đau đớn dường ấy, ngày thứ ba sẽ từ kẻ chết sống lại,

bìng qiě rén yào fèng tā de míng chuán huǐ gǎi 、 shè zuì de dào , cóng yē lù sā lěng qǐ zhí chuán dào wàn bāng 。

và người ta sẽ nhân danh Ngài mà rao giảng cho dân các nước sự ăn năn để được tha tội, bắt đầu từ thành Giê-ru-sa-lem.

nǐ men jiù shì zhè xiē shì de jiàn zhèng 。

Các ngươi làm chứng về mọi việc đó; ta đây sẽ ban cho các ngươi điều Cha ta đã hứa,

。」

wǒ yào jiāng wǒ fù suǒ yīng xǔ de jiàng zài nǐ men shēn shàng , nǐ men yào zài chéng lǐ děng hòu , zhí dào nǐ men lǐng shòu cóng shàng tóu lái de néng lì 。」

còn về phần các ngươi, hãy đợi trong thành cho đến khi được mặc lấy quyền phép từ trên cao.

yē sū lǐng tā men dào bó dà ní de duì miàn , jiù jǔ shǒu gěi tā men zhù fú 。

Kế đó, Ngài đem môn đồ đi đến nơi xung quanh làng Bê-tha-ni, giơ tay lên mà ban phước cho.

zhèng zhù fú de shí hòu , tā jiù lí kāi tā men , bèi dài dào tiān shàng qù le 。

Đang khi ban phước, Ngài lìa môn đồ mà được đem lên trời.

tā men jiù bài tā , dà dà dì huān xǐ , huí yē lù sā lěng qù ,

Môn đồ thờ lạy Ngài rồi trở về thành Giê-ru-sa-lem, mừng rỡ lắm.

殿

cháng zài diàn lǐ chēng sòng shén 。

Môn đồ cứ ở trong đền thờ luôn, ngợi khen Đức Chúa Trời.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.