中文圣经

LU-CA 23

đã biết 0/368

zhòng rén dōu qǐ lái , bǎ yē sū jiě dào bǐ lā duō miàn qián ,

Đoạn, cả hội đồng đứng dậy, điệu Ngài đến trước mặt Phi-lát

:「。」

jiù gào tā shuō :「 wǒ men jiàn zhè rén yòu huò guó mín , jìn zhǐ nà shuì gěi kǎi sā , bìng shuō zì jǐ shì jī dū , shì wáng 。」

Họ bèn khởi cáo Ngài rằng: Chúng tôi đã thấy người nầy xui dân ta làm loạn, cấm nộp thuế cho Sê-sa, và xưng mình là Đấng Christ, là Vua.

:「?」:「。」

bǐ lā duō wèn yē sū shuō :「 nǐ shì yóu tài rén de wáng ma ?」 yē sū huí dá shuō :「 nǐ shuō de shì 。」

Phi-lát gạn Ngài rằng: Chính ngươi là Vua dân Giu-đa phải không? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Thật như lời.

:「。」

bǐ lā duō duì jì sī zhǎng hé zhòng rén shuō :「 wǒ chá bù chū zhè rén yǒu shén me zuì lái 。」

Phi-lát bèn nói với các thầy tế lễ cả và dân chúng rằng: Ta không thấy người nầy có tội gì.

:「。」

dàn tā men yuè fā jí lì dì shuō :「 tā shān huò bǎi xìng , zài yóu tài biàn dì chuán dào , cóng jiā lì lì qǐ , zhí dào zhè lǐ le 。」

Nhưng họ cố nài rằng: Người nầy xui giục dân sự, truyền giáo khắp đất Giu-đê, bắt đầu từ xứ Ga-li-lê rồi đến đây.

:「?」

bǐ lā duō yì tīng jiàn , jiù wèn :「 zhè rén shì jiā lì lì rén ma ?」

Khi Phi-lát nghe điều đó, thì hỏi nếu người nầy thật là dân Ga-li-lê chăng.

jì xiǎo de yē sū shǔ xī lǜ suǒ guǎn , jiù bǎ tā sòng dào xī lǜ nà lǐ qù 。 nà shí xī lǜ zhèng zài yē lù sā lěng 。

Biết Ngài thuộc quyền cai trị của vua Hê-rốt, bèn giải đến cho vua Hê-rốt, vua ấy ở tại thành Giê-ru-sa-lem trong mấy ngày đó.

xī lǜ kàn jiàn yē sū , jiù hěn huān xǐ ; yīn wèi tīng jiàn guò tā de shì , jiǔ yǐ xiǎng yào jiàn tā , bìng qiě zhǐ wàng kàn tā xíng yí jiàn shén jì ,

Vua Hê-rốt thấy Đức Chúa Jêsus thì mừng lắm; vì lâu nay vua muốn gặp Ngài, nhân đã nghe nói về chuyện Ngài, và mong xem Ngài làm phép lạ.

yú shì wèn tā xǔ duō de huà , yē sū què yì yán bù dá 。

Vậy, vua hỏi Ngài nhiều câu, song Ngài không trả lời gì hết.

jì sī zhǎng hé wén shì dōu zhàn zhe , jí lì dì gào tā 。

Các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo ở đó, cáo Ngài dữ lắm.

穿

xī lǜ hé tā de bīng dīng jiù miǎo shì yē sū , xì nòng tā , gěi tā chuān shàng huá lì yī fu , bǎ tā sòng huí bǐ lā duō nà lǐ qù 。

Bấy giờ vua Hê-rốt và quân lính hầu vua đều đãi Ngài cách khinh dể và nhạo báng Ngài; đoạn, họ mặc áo hoa hòe cho Ngài, rồi giao Ngài về cho Phi-lát.

cóng qián xī lǜ hé bǐ lā duō bǐ cǐ yǒu chóu , zài nà yì tiān jiù chéng le péng yǒu 。

Trước kia Phi-lát với vua Hê-rốt thù hiềm nhau, nhưng nội ngày ấy trở nên bạn hữu.

bǐ lā duō chuán qí le jì sī zhǎng hé guān fǔ bìng bǎi xìng ,

Phi-lát hiệp các thầy tế lễ cả, các quan đề hình và dân chúng lại, mà nói rằng:

:「

jiù duì tā men shuō :「 nǐ men jiě zhè rén dào wǒ zhè lǐ , shuō tā shì yòu huò bǎi xìng de 。 kàn nǎ , wǒ yě céng jiāng nǐ men gào tā de shì , zài nǐ men miàn qián shěn wèn tā , bìng méi yǒu chá chū tā shén me zuì lái ;

Các ngươi đã đem nộp người nầy cho ta, về việc xui dân làm loạn; nhưng đã tra hỏi trước mặt các ngươi đây, thì ta không thấy người mắc một tội nào mà các ngươi đã cáo;

jiù shì xī lǜ yě shì rú cǐ , suǒ yǐ bǎ tā sòng huí lái 。 kě jiàn tā méi yǒu zuò shén me gāi sǐ de shì 。

vua Hê-rốt cũng vậy, vì đã giao người về cho ta. Vậy, người nầy đã không làm điều gì đáng chết,

。」

gù cǐ , wǒ yào zé dǎ tā , bǎ tā shì fàng le 。」

nên ta sẽ đánh đòn rồi tha đi.

(Số là đến ngày lễ, quan phải tha một tên tù cho dân.)

:「!」

zhòng rén què yì qí hǎn zhe shuō :「 chú diào zhè ge rén ! shì fàng bā lā bā gěi wǒ men !」

Chúng bèn đồng thanh kêu lên rằng: Hãy giết người nầy đi, mà tha Ba-ra- ba cho chúng tôi!

zhè bā lā bā shì yīn zài chéng lǐ zuò luàn shā rén , xià zài jiān lǐ de 。

Vả, tên nầy bị tù vì dấy loạn trong thành, và vì tội giết người.

bǐ lā duō yuàn yì shì fàng yē sū , jiù yòu quàn jiě tā men 。

Phi-lát có ý muốn tha Đức Chúa Jêsus, nên lại nói cùng dân chúng nữa.

:「!」

wú nài tā men hǎn zhe shuō :「 dīng tā shí zì jià ! dīng tā shí zì jià !」

Song chúng kêu lên rằng: Đóng đinh nó trên cây thập tự đi! Đóng đinh nó trên cây thập tự đi!

:「。」

bǐ lā duō dì sān cì duì tā men shuō :「 wèi shén me ne ? zhè rén zuò le shén me è shì ne ? wǒ bìng méi yǒu chá chū tā shén me gāi sǐ de zuì lái 。 suǒ yǐ , wǒ yào zé dǎ tā , bǎ tā shì fàng le 。」

Phi-lát lại nói đến lần thứ ba, rằng: Vậy người nầy đã làm điều ác gì? Ta không tìm thấy người có sự gì đáng chết. Vậy, đánh đòn xong, ta sẽ tha.

tā men dà shēng cuī bī bǐ lā duō , qiú tā bǎ yē sū dīng zài shí zì jià shàng 。 tā men de shēng yīn jiù dé le shèng 。

Nhưng chúng cố nài, kêu lớn tiếng rằng phải đóng đinh Ngài trên cây thập tự; tiếng kêu của họ được thắng.

bǐ lā duō zhè cái zhào tā men suǒ qiú de dìng àn ,

Phi-lát truyền làm y như lời chúng xin.

bǎ tā men suǒ qiú de nà zuò luàn shā rén 、 xià zài jiān lǐ de shì fàng le , bǎ yē sū jiāo gěi tā men , rèn píng tā men de yì sī xíng 。

Bèn tha tên tù vì tội dấy loạn và giết người, là người chúng đã xin tha; rồi phó Đức Chúa Jêsus cho mặc ý họ.

西

dài yē sū qù de shí hòu , yǒu yí gè gǔ lì nài rén xī mén , cóng xiāng xià lái ; tā men jiù zhuā zhù tā , bǎ shí zì jià gē zài tā shēn shàng , jiào tā bèi zhe gēn suí yē sū 。

Khi chúng điệu Đức Chúa Jêsus đi, bắt một người xứ Sy-ren, tên là Si- môn, từ ngoài đồng về, buộc phải vác cây thập tự theo sau Ngài.

yǒu xǔ duō bǎi xìng gēn suí yē sū , nèi zhōng yǒu hǎo xiē fù nǚ ; fù nǚ men wèi tā hào táo tòng kū 。

Có đoàn dân đông lắm đi theo Đức Chúa Jêsus, và có mấy người đàn bà đấm ngực khóc về Ngài.

:「

yē sū zhuǎn shēn duì tā men shuō :「 yē lù sā lěng de nǚ zǐ , bú yào wèi wǒ kū , dāng wèi zì jǐ hé zì jǐ de ér nǚ kū 。

Nhưng Đức Chúa Jêsus xây mặt lại với họ mà phán rằng: Hỡi con gái thành Giê-ru-sa-lem, đừng khóc về ta, song khóc về chính mình các ngươi và về con cái các ngươi.

:『怀!』

yīn wèi rì zi yào dào , rén bì shuō :『 bù shēng yù de , hé wèi céng huái tāi de , wèi céng rǔ yǎng yīng hái de , yǒu fú le !』

Vì nầy, ngày hầu đến, người ta sẽ nói rằng: Phước cho đàn bà son, phước cho dạ không sanh đẻ và vú không cho con bú!

nà shí , rén yào xiàng dà shān shuō : dǎo zài wǒ men shēn shàng ! xiàng xiǎo shān shuō : zhē gài wǒ men !

Bấy giờ, người ta sẽ nói với núi rằng: Hãy đổ xuống trên chúng ta! với gò rằng: Hãy che chúng ta!

?」

「 zhè xiē shì jì xíng zài yǒu zhī shuǐ de shù shàng , nà kū gān de shù jiāng lái zěn me yàng ne ?」

Vì nếu người ta làm những sự ấy cho cây xanh, thì cây khô sẽ xảy ra sao?

yòu yǒu liǎng gè fàn rén , hé yē sū yì tóng dài lái chǔ sǐ 。

Chúng cũng đem hai người đi nữa, là kẻ trộm cướp, để giết cùng với Ngài.

」,

dào le yí gè dì fāng , míng jiào 「 dú lóu dì 」, jiù zài nà lǐ bǎ yē sū dīng zài shí zì jià shàng , yòu dīng le liǎng gè fàn rén : yí gè zài zuǒ biān , yí gè zài yòu biān 。

Khi đến một chỗ gọi là chỗ Sọ, họ đóng đinh Ngài trên cây thập tự tại đó, cùng hai tên trộm cướp, một tên bên hữu Ngài, một tên bên tả.

:「。」

dāng xià yē sū shuō :「 fù a ! shè miǎn tā men ; yīn wèi tā men suǒ zuò de , tā men bù xiǎo de 。」 bīng dīng jiù niān jiū fēn tā de yī fu 。

Song Đức Chúa Jêsus cầu rằng: Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì. Đoạn, họ bắt thăm chia nhau áo xống của Ngài.

:「!」

bǎi xìng zhàn zài nà lǐ guān kàn 。 guān fǔ yě chī xiào tā , shuō :「 tā jiù le bié rén ; tā ruò shì jī dū , shén suǒ jiǎn xuǎn de , kě yǐ jiù zì jǐ ba !」

Dân chúng đứng đó mà ngó. Các người coi việc nhạo cười Ngài, rằng: Nó đã cứu kẻ khác; nếu nó là Đấng Christ, Đấng Đức Chúa Trời đã lựa, thì hãy cứu mình đi!

bīng dīng yě xì nòng tā , shàng qián ná cù sòng gěi tā hē ,

Quân lính cũng giỡn cợt Ngài, lại gần đưa giấm cho Ngài uống,

:「!」

shuō :「 nǐ ruò shì yóu tài rén de wáng , kě yǐ jiù zì jǐ ba !」

mà rằng: Nếu ngươi là Vua dân Giu-đa, hãy tự cứu lấy mình đi!

:「。」

zài yē sū yǐ shàng yǒu yí gè pái zi xiě zhe :「 zhè shì yóu tài rén de wáng 。」

Phía trên đầu Ngài, có đề rằng: Người Nầy Là Vua Dân Giu-đa.

:「!」

nà tóng dīng de liǎng gè fàn rén yǒu yí gè jī xiào tā , shuō :「 nǐ bú shì jī dū ma ? kě yǐ jiù zì jǐ hé wǒ men ba !」

Vả, một tên trộm cướp bị đóng đinh cũng mắng nhiếc Ngài rằng: Ngươi không phải là Đấng Christ sao? Hãy tự cứu lấy mình ngươi cùng chúng ta nữa!

:「

nà yí gè jiù yìng shēng zé bèi tā , shuō :「 nǐ jì shì yí yàng shòu xíng de , hái bú pà shén ma ?

Nhưng tên kia trách nó rằng: Ngươi cũng chịu một hình phạt ấy, còn chẳng sợ Đức Chúa Trời sao?

。」

wǒ men shì yīng gāi de , yīn wǒ men suǒ shòu de yǔ wǒ men suǒ zuò de xiāng chèn , dàn zhè ge rén méi yǒu zuò guò yí jiàn bù hǎo de shì 。」

Về phần chúng ta, chỉ là sự công bình, vì hình ta chịu xứng với việc ta làm; nhưng người nầy không hề làm một điều gì ác.

:「!」

jiù shuō :「 yē sū a , nǐ dé guó jiàng lín de shí hòu , qiú nǐ jì niàn wǒ !」

Đoạn lại nói rằng: Hỡi Jêsus, khi Ngài đến trong nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi!

:「。」

yē sū duì tā shuō :「 wǒ shí zài gào sù nǐ , jīn rì nǐ yào tóng wǒ zài lè yuán lǐ le 。」

Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi.

nà shí yuē yǒu wǔ zhèng , biàn dì dōu hēi àn le , zhí dào shēn chū ,

Khi đó, ước giờ thứ sáu, khắp xứ đều tối tăm cho đến giờ thứ chín.

殿

rì tou biàn hēi le ; diàn lǐ de màn zǐ cóng dāng zhōng liè wèi liǎng bàn 。

Mặt trời trở nên tối, và màn trong đền thờ xé chính giữa ra làm hai.

:「。」

yē sū dà shēng hǎn zhe shuō :「 fù a ! wǒ jiāng wǒ de líng hún jiāo zài nǐ shǒu lǐ 。」 shuō le zhè huà , qì jiù duàn le 。

Đức Chúa Jêsus bèn kêu lớn rằng: Hỡi Cha, tôi giao linh hồn lại trong tay Cha! Ngài vừa nói xong thì tắt hơi.

耀 :「!」

bǎi fū zhǎng kàn jiàn suǒ chéng de shì , jiù guī róng yào yǔ shén , shuō :「 zhè zhēn shì gè yì rén !」

Thầy đội thấy sự đã xảy ra, ngợi khen Đức Chúa Trời rằng: Thật người nầy là người công bình.

jù jí guān kàn de zhòng rén jiàn le zhè suǒ chéng de shì dōu chuí zhe xiōng huí qù le 。

Cả dân chúng đi xem, thấy nông nổi làm vậy, đấm ngực mà trở về.

hái yǒu yí qiè yǔ yē sū shú shí de rén , hé cóng jiā lì lì gēn zhe tā lái de fù nǚ men , dōu yuǎn yuǎn dì zhàn zhe kàn zhè xiē shì 。

Song những kẻ quen biết Đức Chúa Jêsus và các người đàn bà theo Ngài từ xứ Ga-li-lê, đều đứng đằng xa mà ngó.

yǒu yí gè rén míng jiào yuē sè , shì gè yì shì , wèi rén shàn liáng gōng yì ;

Có một người, tên là Giô-sép, làm nghị viên tòa công luận, là người chánh trực công bình,

zhòng rén suǒ móu suǒ wèi , tā bìng méi yǒu fù cóng 。 tā běn shì yóu tài 、 yà lì mǎ tài chéng lǐ sù cháng pàn wàng shén guó de rén 。

không đồng ý và cũng không dự việc các người kia đã làm. Người ở A-ri- ma-thê, là thành thuộc về xứ Giu-đê, vẫn trông đợi nước Đức Chúa Trời.

zhè rén qù jiàn bǐ lā duō , qiú yē sū de shēn tǐ ,

Người bèn đi đến Phi-lát mà xin xác Đức Chúa Jêsus.

jiù qǔ xià lái , yòng xì má bù guǒ hǎo , ān fàng zài shí tou záo chéng de fén mù lǐ ; nà lǐ tou cóng lái méi yǒu zàng guò rén 。

Khi đã đem xác Ngài xuống khỏi cây thập tự, người lấy vải liệm mà bọc, rồi chôn trong huyệt đã đục nơi hòn đá, là huyệt chưa chôn ai hết.

nà rì shì yù bèi rì , ān xī rì yě kuài dào le 。

Bấy giờ là ngày sắm sửa, và ngày Sa-bát gần tới.

nà xiē cóng jiā lì lì hé yē sū tóng lái de fù nǚ gēn zài hòu miàn , kàn jiàn le fén mù hé tā de shēn tǐ zěn yàng ān fàng 。

Các người đàn bà đã từ xứ Ga-li-lê đến với Đức Chúa Jêsus, theo Giô-sép, xem mả và cũng xem xác Ngài đặt thể nào. Khi trở về, họ sắm sửa những thuốc thơm và sáp thơm.

便

tā men jiù huí qù , yù bèi le xiāng liào xiāng gāo 。 tā men zài ān xī rì , biàn zūn zhe jiè mìng ān xī le 。

Ngày Sa-bát, họ nghỉ ngơi theo luật lệ.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.