中文圣经

MÁC 6

đã biết 0/413

yē sū lí kāi nà lǐ , lái dào zì jǐ de jiā xiāng ; mén tú yě gēn cóng tā 。

Đức Chúa Jêsus đi khỏi đó, đến quê hương mình, có các môn đồ cùng đi theo.

:「

dào le ān xī rì , tā zài huì táng lǐ jiào xùn rén 。 zhòng rén tīng jiàn , jiù shèn xī qí , shuō :「 zhè rén cóng nǎ lǐ yǒu zhè xiē shì ne ? suǒ cì gěi tā de shì shén me zhì huì ? tā shǒu suǒ zuò de shì hé děng de yì néng ne ?

Đến ngày Sa-bát, Ngài bắt đầu dạy dỗ trong nhà hội; thiên hạ nghe Ngài, lấy làm lạ mà nói rằng: Người bởi đâu được những điều nầy? Sự khôn sáng mà người được ban cho là gì, và thể nào tay người làm được những phép lạ dường ấy?

西西?」

zhè bú shì nà mù jiàng ma ? bú shì mǎ lì yà de ér zi yǎ gè 、 yuē xī 、 yóu dà 、 xī mén de cháng xiōng ma ? tā mèi mei men bù yě shì zài wǒ men zhè lǐ ma ?」 tā men jiù yàn qì tā 。

Có phải người là thợ mộc, con trai Ma-ri, anh em với Gia-cơ, Giô-sê, Giu-đê, và Si-môn chăng? Chị em người há chẳng phải ở giữa chúng ta đây ư? Chúng bèn vấp phạm vì cớ Ngài.

:「。」

yē sū duì tā men shuō :「 dà fán xiān zhī , chú le běn dì 、 qīn shǔ 、 běn jiā zhī wài , méi yǒu bú bèi rén zūn jìng de 。」

Song Đức Chúa Jêsus phán cùng họ rằng: Đấng tiên tri chỉ bị quê hương mình, bà con mình và trong nhà mình khinh dể mà thôi.

yē sū jiù zài nà lǐ bù dé xíng shén me yì néng , bú guò àn shǒu zài jǐ gè bìng rén shēn shàng , zhì hǎo tā men 。

ỳ đó, Ngài không làm phép lạ nào được, chỉ đặt tay chữa lành một vài người đau ốm;

tā yě chà yì tā men bú xìn , jiù wǎng zhōu wéi xiāng cūn jiào xùn rén qù le 。

và Ngài lấy làm lạ vì chúng chẳng tin. Rồi Ngài đi khắp các làng gần đó mà giảng dạy.

yē sū jiào le shí èr gè mén tú lái , chà qiǎn tā men liǎng gè liǎng gè dì chū qù , yě cì gěi tā men quán bǐng , zhì fú wū guǐ ;

Ngài bèn kêu mười hai sứ đồ, bắt đầu sai đi từng đôi, ban quyền phép trừ tà ma.

:「

bìng qiě zhǔ fù tā men :「 xíng lù de shí hòu bú yào dài shí wù hé kǒu dài , yāo dài lǐ yě bú yào dài qián , chú le guǎi zhàng yǐ wài , shén me dōu bú yào dài ;

Ngài truyền cho sứ đồ đi đường đừng đem chi theo hết, hoặc bánh, hoặc bao, hoặc tiền bạc trong dây lưng, chỉ đem một cây gậy mà thôi;

穿穿」;

zhǐ yào chuān xié , yě bú yào chuān liǎng jiàn guà zǐ 」;

chỉ mang dép, đừng mặc hai áo.

:「

yòu duì tā men shuō :「 nǐ men wú lùn dào hé chù , jìn le rén de jiā , jiù zhù zài nà lǐ , zhí dào lí kāi nà dì fāng 。

Ngài phán cùng sứ đồ rằng: Hễ nhà nào các ngươi sẽ vào, hãy cứ ở đó, cho đến khi đi.

。」

hé chù de rén bù jiē dài nǐ men , bù tīng nǐ men , nǐ men lí kāi nà lǐ de shí hòu , jiù bǎ jiǎo shàng de chén tǔ duò xià qù , duì tā men zuò jiàn zhèng 。」

Nếu có chỗ nào, người ta không chịu tiếp các ngươi, và cũng không nghe các ngươi nữa, thì hãy đi khỏi đó, và phủi bụi đã dính chân mình, để làm chứng cho họ.

mén tú jiù chū qù chuán dào , jiào rén huǐ gǎi ,

Vậy, các sứ đồ đi ra, giảng cho người ta phải ăn năn;

yòu gǎn chū xǔ duō de guǐ , yòng yóu mǒ le xǔ duō bìng rén , zhì hǎo tā men 。

đuổi nhiều ma quỉ, xức dầu cho nhiều kẻ bịnh và chữa cho được lành.

:「。」

yē sū de míng shēng chuán yáng chū lái 。 xī lǜ wáng tīng jiàn le , jiù shuō :「 shī xǐ de yuē hàn cóng sǐ lǐ fù huó le , suǒ yǐ zhè xiē yì néng yóu tā lǐ miàn fā chū lái 。」

Vả, vua Hê-rốt nghe nói về Đức Chúa Jêsus (vì danh tiếng Ngài đã trở nên lừng lẫy), thì nói rằng: Giăng, là người làm phép báp-tem, đã từ kẻ chết sống lại; cho nên tự người làm ra các phép lạ.

:「。」:「。」

dàn bié rén shuō :「 shì yǐ lì yà 。」 yòu yǒu rén shuō :「 shì xiān zhī , zhèng xiàng xiān zhī zhōng de yí wèi 。」

Người thì nói: Aáy là Ê-li; kẻ thì nói: Aáy là đấng tiên tri, như một trong các đấng tiên tri đời xưa.

:「。」

xī lǜ tīng jiàn què shuō :「 shì wǒ suǒ zhǎn de yuē hàn , tā fù huó le 。」

Nhưng Hê-rốt nghe vậy, thì nói rằng: Aáy là Giăng mà ta đã truyền chém, người đã sống lại.

xiān shì xī lǜ wèi tā xiōng dì féi lì de qī zǐ xī luó dǐ de yuán gù , chà rén qù ná zhù yuē hàn , suǒ zài jiān lǐ , yīn wèi xī lǜ yǐ jīng qǔ le nà fù rén 。

Số là, Hê-rốt đã sai người bắt Giăng, và truyền xiềng lại cầm trong ngục, bởi cớ Hê-rô-đia, vợ Phi-líp em vua, vì vua đã cưới nàng,

:「。」

yuē hàn céng duì xī lǜ shuō :「 nǐ qǔ nǐ xiōng dì de qī zǐ shì bù hé lǐ de 。」

và Giăng có can vua rằng: Vua không nên lấy vợ em mình.

怀

yú shì xī luó dǐ huái hèn tā , xiǎng yào shā tā , zhǐ shì bù néng ;

Nhân đó, Hê-rô-đia căm Giăng, muốn giết đi.

yīn wèi xī lǜ zhī dào yuē hàn shì yì rén , shì shèng rén , suǒ yǐ jìng wèi tā , bǎo hù tā , tīng tā jiǎng lùn , jiù duō zhào zhe xíng , bìng qiě lè yì tīng tā 。

Nhưng không thể giết, vì Hê-rốt sợ Giăng, biết là một người công bình và thánh. Vua vẫn gìn giữ người, khi nghe lời người rồi, lòng hằng bối rối, mà vua bằng lòng nghe.

yǒu yì tiān , qià qiǎo shì xī lǜ de shēng rì , xī lǜ bǎi shè yán xí , qǐng le dà chén hé qiān fū cháng , bìng jiā lì lì zuò shǒu lǐng de 。

Nhưng, vừa gặp dịp tiện, là ngày sanh nhựt Hê-rốt, vua đãi tiệc các quan lớn trong triều, các quan võ, cùng các người tôn trưởng trong xứ Ga-li-lê.

使:「。」

xī luó dǐ de nǚ ér jìn lái tiào wǔ , shǐ xī lǜ hé tóng xí de rén dōu huān xǐ 。 wáng jiù duì nǚ zǐ shuō :「 nǐ suí yì xiàng wǒ qiú shén me , wǒ bì gěi nǐ 。」

Chính con gái Hê-rô-đia vào, nhảy múa, đẹp lòng Hê-rốt và các ngươi dự tiệc nữa. Vua nói cùng người con gái ấy rằng: Hãy xin ta điều chi ngươi muốn, ta sẽ cho.

:「。」

yòu duì tā qǐ shì shuō :「 suí nǐ xiàng wǒ qiú shén me , jiù shì wǒ guó de yí bàn , wǒ yě bì gěi nǐ 。」

Vua lại thề cùng nàng rằng: Bất k” ngươi xin điều chi, ta cũng sẽ cho, dầu xin phân nửa nước ta cũng vậy.

:「?」:「。」

tā jiù chū qù duì tā mǔ qīn shuō :「 wǒ kě yǐ qiú shén me ne ?」 tā mǔ qīn shuō :「 shī xǐ yuē hàn de tóu 。」

Nàng ra khỏi đó, nói với mẹ rằng: Tôi nên xin điều chi? Mẹ rằng: Cái đầu của Giăng Báp-tít.

:「。」

tā jiù jí máng jìn qù jiàn wáng , qiú tā shuō :「 wǒ yuàn wáng lì shí bǎ shī xǐ yuē hàn de tóu fàng zài pán zi lǐ gěi wǒ 。」

Tức thì nàng vội trở vào nơi vua mà xin rằng: Tôi muốn vua lập tức cho tôi cái đầu Giăng Báp-tít để trên mâm.

wáng jiù shèn yōu chóu ; dàn yīn tā suǒ qǐ de shì , yòu yīn tóng xí de rén , jiù bù kěn tuī cí ,

Vua lấy làm buồn rầu lắm; nhưng vì cớ lời thề mình và khách dự yến, thì không muốn từ chối nàng.

suí jí chà yí gè hù wèi bīng , fēn fù ná yuē hàn de tóu lái 。 hù wèi bīng jiù qù , zài jiān lǐ zhǎn le yuē hàn ,

Vua liền sai một người lính thị vệ truyền đem đầu Giăng đến.

bǎ tóu fàng zài pán zi lǐ , ná lái gěi nǚ zǐ , nǚ zǐ jiù gěi tā mǔ qīn 。

Người ấy đi chém Giăng trong ngục; rồi để đầu trên mâm đem cho người con gái, và người con gái đem cho mẹ mình.

yuē hàn de mén tú tīng jiàn le , jiù lái bǎ tā de shī shǒu lǐng qù , zàng zài fén mù lǐ 。

Môn đồ Giăng nghe tin, đến lấy xác người chôn trong mả.

使

shǐ tú jù jí dào yē sū nà lǐ , jiāng yí qiè suǒ zuò de shì 、 suǒ chuán de dào quán gào sù tā 。

Các sứ đồ nhóm lại cùng Đức Chúa Jêsus, thuật cho Ngài mọi điều mình đã làm và dạy.

:「。」

tā jiù shuō :「 nǐ men lái , tóng wǒ àn àn dì dào kuàng yě dì fāng qù xiē yi xiē 。」 zhè shì yīn wèi lái wǎng de rén duō , tā men lián chī fàn yě méi yǒu gōng fū 。

Ngài phán cùng sứ đồ rằng: Hãy đi tẻ ra trong nơi vắng vẻ, nghỉ ngơi một chút. Vì có kẻ đi người lại đông lắm, đến nỗi Ngài và sứ đồ không có thì giờ mà ăn.

tā men jiù zuò chuán , àn àn dì wǎng kuàng yě dì fāng qù 。

Vậy, Ngài và sứ đồ xuống thuyền đặng đi tẻ ra trong nơi vắng vẻ.

zhòng rén kàn jiàn tā men qù , yǒu xǔ duō rèn shi tā men de , jiù cóng gè chéng bù xíng , yì tóng pǎo dào nà lǐ , bǐ tā men xiān gǎn dào le 。

Nhưng nhiều người thấy đi, thì nhìn biết; dân chúng từ khắp các thành đều chạy bộ đến nơi Chúa cùng sứ đồ vừa đi, và đã tới đó trước.

yē sū chū lái , jiàn yǒu xǔ duō de rén , jiù lián mǐn tā men , yīn wèi tā men rú tóng yáng méi yǒu mù rén yì bān , yú shì kāi kǒu jiào xùn tā men xǔ duō dào lǐ 。

Bấy giờ Đức Chúa Jêsus ở thuyền bước ra, thấy đoàn dân đông lắm, thì Ngài động lòng thương xót đến, vì như chiên không có người chăn; Ngài bèn khởi sự dạy dỗ họ nhiều điều.

:「

tiān yǐ jīng wǎn le , mén tú jìn qián lái , shuō :「 zhè shì yě dì , tiān yǐ jīng wǎn le ,

Trời đã chiều, môn đồ tới gần Ngài mà thưa rằng: Chỗ nầy là vắng vẻ, và trời đã chiều rồi;

。」

qǐng jiào zhòng rén sàn kāi , tā men hǎo wǎng sì miàn xiāng cūn lǐ qù , zì jǐ mǎi shén me chī 。」

xin cho dân chúng về, để họ đi các nơi nhà quê và các làng gần đây đặng mua đồ ăn.

:「。」:「?」

yē sū huí dá shuō :「 nǐ men gěi tā men chī ba 。」 mén tú shuō :「 wǒ men kě yǐ qù mǎi èr shí liǎng yín zi de bǐng gěi tā men chī ma ?」

Ngài đáp rằng: Chính các ngươi phải cho họ ăn. Môn đồ thưa rằng: chúng tôi sẽ đi mua đến hai trăm đơ-ni-ê bánh để cho họ ăn hay sao?

:「。」:「。」

yē sū shuō :「 nǐ men yǒu duō shǎo bǐng , kě yǐ qù kàn kàn 。」 tā men zhī dào le , jiù shuō :「 wǔ gè bǐng , liǎng tiáo yú 。」

Ngài hỏi rằng: Các ngươi có bao nhiêu bánh? Hãy đi xem thử. Môn đồ xem xét rồi, thưa rằng: Năm cái bánh và hai con cá.

yē sū fēn fù tā men , jiào zhòng rén yì bāng yi bāng dì zuò zài qīng cǎo dì shàng 。

Ngài bèn truyền cho môn đồ biểu chúng ngồi xuống hết thảy từng chòm trên cỏ xanh.

zhòng rén jiù yì pái yi pái dì zuò xià , yǒu yì bǎi yì pái de , yǒu wǔ shí yī pái de 。

Chúng ngồi xuống từng hàng, hàng thì một trăm, hàng thì năm chục.

yē sū ná zhe zhè wǔ gè bǐng , liǎng tiáo yú , wàng zhe tiān zhù fú , bò kāi bǐng , dì gěi mén tú , bǎi zài zhòng rén miàn qián , yě bǎ nà liǎng tiáo yú fēn gěi zhòng rén 。

Đức Chúa Jêsus lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, tạ ơn, rồi bẻ bánh ra mà trao cho môn đồ, đặng phát cho đoàn dân; lại cũng chia hai con cá cho họ nữa.

tā men dōu chī , bìng qiě chī bǎo le 。

Ai nấy ăn no nê rồi;

mén tú jiù bǎ suì bǐng suì yú shōu shí qǐ lái , zhuāng mǎn le shí èr gè lán zi 。

người ta lượm được mười hai giỏ đầy những miếng bánh và cá còn thừa lại.

chī bǐng de nán rén gòng yǒu wǔ qiān 。

Vả, số những kẻ đã ăn chừng năm ngàn người.

yē sū suí jí cuī mén tú shàng chuán , xiān dù dào nà biān bó sài dà qù , děng tā jiào zhòng rén sàn kāi 。

Rồi Ngài liền giục môn đồ vào thuyền, qua bờ bên kia trước mình, hướng đến thành Bết-sai-đa, trong khi Ngài cho dân chúng về.

tā jì cí bié le tā men , jiù wǎng shān shàng qù dǎo gào 。

Ngài lìa khỏi chúng rồi, thì lên núi mà cầu nguyện.

dào le wǎn shàng , chuán zài hǎi zhōng , yē sū dú zì zài àn shàng ;

Đến tối, chiếc thuyền đang ở giữa biển, còn Ngài thì ở một mình trên đất.

kàn jiàn mén tú yīn fēng bú shùn , yáo lǔ shèn kǔ 。 yè lǐ yuē yǒu sì gēng tiān , jiù zài hǎi miàn shàng zǒu , wǎng tā men nà lǐ qù , yì sī yào zǒu guò tā men qù 。

Ngài thấy môn đồ chèo khó nhọc lắm, vì gió ngược. Lối canh tư đêm ấy, Ngài đi bộ trên biển mà đến cùng môn đồ; và muốn đi trước.

dàn mén tú kàn jiàn tā zài hǎi miàn shàng zǒu , yǐ wéi shì guǐ guài , jiù hǎn jiào qǐ lái ;

Môn đồ thấy Ngài đi bộ trên mặt biển ngỡ là ma, nên la lên;

:「!」

yīn wèi tā men dōu kàn jiàn le tā , qiě shèn jīng huāng 。 yē sū lián máng duì tā men shuō :「 nǐ men fàng xīn ! shì wǒ , bú yào pà !」

vì ai nấy đều thấy Ngài và sợ hoảng. nhưng Ngài liền nói chuyện với môn đồ và phán rằng: Hãy yên lòng, ta đây đừng sợ chi.

yú shì dào tā men nà lǐ , shàng le chuán , fēng jiù zhù le ; tā men xīn lǐ shí fēn jīng qí 。

Ngài bèn bước lên thuyền với môn đồ, thì gió lặng. Môn đồ càng lấy làm lạ hơn nữa;

zhè shì yīn wèi tā men bù míng bái nà fēn bǐng de shì , xīn lǐ hái shì yú wán 。

vì chẳng hiểu phép lạ về mấy cái bánh, bởi lòng cứng cỏi.

jì dù guò qù , lái dào gé ní sā lè dì fāng , jiù kào le àn ,

Khi Ngài và môn đồ đã qua khỏi biển, đến xứ Ghê-nê-xa-rết, thì ghé thuyền vào bờ.

yí xià chuán , zhòng rén rèn de shì yē sū ,

Vừa ở trong thuyền bước ra, có dân chúng nhận biết Ngài,

便

jiù pǎo biàn nà yí dài dì fāng , tīng jiàn tā zài hé chù , biàn jiāng yǒu bìng de rén yòng rù zǐ tái dào nà lǐ 。

chạy khắp cả miền đó, khiêng những người đau nằm trên giường, hễ nghe Ngài ở đâu thì đem đến đó.

fán yē sū suǒ dào de dì fāng , huò cūn zhōng , huò chéng lǐ , huò xiāng jiān , tā men dōu jiāng bìng rén fàng zài jiē shì shàng , qiú yē sū zhī róng tā men mō tā de yī shang zǐ ; fán mō zhe de rén jiù dōu hǎo le 。

Ngài đến nơi nào, hoặc làng, thành, hay chốn nhà quê, người ta đem người đau để tại các chợ, và xin Ngài cho phép mình ít nữa được rờ đến trôn áo Ngài; những kẻ đã rờ đều được lành bịnh cả.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.