中文圣经

MA-THI-Ơ 14

đã biết 0/246

nà shí , fēn fēng de wáng xī lǜ tīng jiàn yē sū de míng shēng ,

Lúc ấy, Hê-rốt là vua chư hầu, nghe tiếng đồn Đức Chúa Jêsus,

:「。」

jiù duì chén pú shuō :「 zhè shì shī xǐ de yuē hàn cóng sǐ lǐ fù huó , suǒ yǐ zhè xiē yì néng cóng tā lǐ miàn fā chū lái 。」

thì phán cùng bầy tôi rằng: Đây là Giăng Báp-tít. Người chết đi sống lại, nhân đó mới làm được mấy phép lạ như vậy.

qǐ xiān , xī lǜ wèi tā xiōng dì féi lì de qī zǐ xī luó dǐ de yuán gù , bǎ yuē hàn ná zhù , suǒ zài jiān lǐ 。

Số là, bởi cớ Hê-rô-đia, vợ Phi-líp, là em mình, nên vua Hê-rốt đã truyền bắt trói Giăng và bỏ tù.

:「。」

yīn wèi yuē hàn céng duì tā shuō :「 nǐ qǔ zhè fù rén shì bù hé lǐ de 。」

Vì Giăng có can vua rằng: Vua không có phép được lấy người đó làm vợ.

xī lǜ jiù xiǎng yào shā tā , zhǐ shì pà bǎi xìng , yīn wèi tā men yǐ yuē hàn wèi xiān zhī 。

Vua muốn giết Giăng, song sợ dân chúng, vì họ đều tôn Giăng là đấng tiên tri.

使

dào le xī lǜ de shēng rì , xī luó dǐ de nǚ ér zài zhòng rén miàn qián tiào wǔ , shǐ xī lǜ huān xǐ 。

Vừa đến ngày ăn mừng sanh nhựt vua Hê-rốt, con gái của Hê-rô-đia nhảy múa ở giữa người dự đám, vua lấy làm thích lắm,

xī lǜ jiù qǐ shì , yīng xǔ suí tā suǒ qiú de gěi tā 。

đến nỗi lấy lời thề mà hứa cho con gái ấy điều chi nàng muốn xin.

使:「。」

nǚ ér bèi mǔ qīn suǒ shǐ , jiù shuō :「 qǐng bǎ shī xǐ yuē hàn de tóu fàng zài pán zi lǐ , ná lái gěi wǒ 。」

Vậy, nàng bị mẹ xui giục, bèn tâu rằng: Xin lấy cái đầu Giăng Báp-tít để trên mâm mà cho tôi đây.

便

wáng biàn yōu chóu , dàn yīn tā suǒ qǐ de shì , yòu yīn tóng xí de rén , jiù fēn fù gěi tā ;

Vua lấy làm buồn rầu; song vì đã thề lỡ rồi và có những người dự yến ở đó, nên truyền cho nàng như lời.

yú shì dǎ fā rén qù , zài jiān lǐ zhǎn le yuē hàn ,

Vua bèn sai người chém Giăng trong ngục,

bǎ tóu fàng zài pán zi lǐ , ná lái gěi le nǚ zǐ ; nǚ zǐ ná qù gěi tā mǔ qīn 。

rồi họ để đầu người trên mâm mà đem cho con gái ấy, nàng bèn đem cho mẹ mình.

yuē hàn de mén tú lái , bǎ shī shǒu lǐng qù mái zàng le , jiù qù gào sù yē sū 。

Đoạn, các môn đồ của Giăng đến, lấy xác mà chôn, rồi đi báo tin cho Đức Chúa Jêsus.

退

yē sū tīng jiàn le , jiù shàng chuán cóng nà lǐ dú zì tuì dào yě dì lǐ qù 。 zhòng rén tīng jiàn , jiù cóng gè chéng lǐ bù xíng gēn suí tā 。

Đức Chúa Jêsus vừa nghe tin ấy liền bỏ đó xuống thuyền, đi tẻ ra nơi đồng vắng. Khi đoàn dân biết vậy, thì từ các thành đi bộ mà theo Ngài.

yē sū chū lái , jiàn yǒu xǔ duō de rén , jiù lián mǐn tā men , zhì hǎo le tā men de bìng rén 。

Ngài ở thuyền bước lên, thấy đoàn dân đông đúc, động lòng thương xót, mà chữa cho kẻ bịnh được lành.

:「。」

tiān jiāng wǎn de shí hòu , mén tú jìn qián lái , shuō :「 zhè shì yě dì , shí hòu yǐ jīng guò le , qǐng jiào zhòng rén sàn kāi , tā men hǎo wǎng cūn zǐ lǐ qù , zì jǐ mǎi chī de 。」

Đến chiều tối, môn đồ tới gần Ngài mà thưa rằng: ỳ đây vắng vẻ, và trời tối rồi, xin thầy cho dân chúng về, để họ đi vào các làng đặng mua đồ ăn.

:「!」

yē sū shuō :「 bú yòng tā men qù , nǐ men gěi tā men chī ba !」

Đức Chúa Jêsus phán rằng: Không cần họ phải đi; chính các ngươi hãy cho họ ăn.

:「。」

mén tú shuō :「 wǒ men zhè lǐ zhǐ yǒu wǔ gè bǐng , liǎng tiáo yú 。」

Môn đồ thưa rằng: Chúng tôi có đây năm cái bánh và hai con cá mà thôi.

:「。」

yē sū shuō :「 ná guò lái gěi wǒ 。」

Ngài phán rằng: Hãy đem đây cho ta.

yú shì fēn fù zhòng rén zuò zài cǎo dì shàng , jiù ná zhe zhè wǔ gè bǐng , liǎng tiáo yú , wàng zhe tiān zhù fú , bò kāi bǐng , dì gěi mén tú , mén tú yòu dì gěi zhòng rén 。

Ngài bèn truyền cho chúng ngồi xuống trên cỏ, đoạn, lấy năm cái bánh và hai con cá đó, ngửa mặt lên trời mà tạ ơn; rồi bẻ bánh ra đưa cho môn đồ, môn đồ phát cho dân chúng.

tā men dōu chī , bìng qiě chī bǎo le , bǎ shèng xià de líng suì shōu shí qǐ lái , zhuāng mǎn le shí èr gè lán zi 。

Ai nấy đều ăn no, còn bánh thừa lại thâu được đầy mười hai giỏ.

chī de rén , chú le fù nǚ hái zi , yuē yǒu wǔ qiān 。

Số người ăn ước chừng năm ngàn, không kể đàn bà con nít.

yē sū suí jí cuī mén tú shàng chuán , xiān dù dào nà biān qù , děng tā jiào zhòng rén sàn kāi 。

Kế đó, Ngài liền hối môn đồ xuống thuyền, qua trước bờ bên kia, trong khi Ngài đang truyền cho dân chúng tan đi.

sàn le zhòng rén yǐ hòu , tā jiù dú zì shàng shān qù dǎo gào 。 dào le wǎn shàng , zhǐ yǒu tā yì rén zài nà lǐ 。

Xong rồi, Ngài lên núi để cầu nguyện riêng; đến chiều tối, Ngài ở đó một mình.

nà shí chuán zài hǎi zhōng , yīn fēng bú shùn , bèi làng yáo hàn 。

Bấy giờ, thuyền đã ra giữa biển rồi, vì gió ngược, nên bị sóng vỗ.

yè lǐ sì gēng tiān , yē sū zài hǎi miàn shàng zǒu , wǎng mén tú nà lǐ qù 。

Song đến canh tư đêm ấy, Đức Chúa Jêsus đi bộ trên mặt biển mà đến cùng môn đồ.

:「!」便

mén tú kàn jiàn tā zài hǎi miàn shàng zǒu , jiù jīng huāng le , shuō :「 shì gè guǐ guài !」 biàn hài pà , hǎn jiào qǐ lái 。

Khi thấy Ngài đi bộ trên mặt biển, thì môn đồ bối rối mà nói rằng: Aáy là một con ma; rồi sợ hãi mà la lên.

:「!」

yē sū lián máng duì tā men shuō :「 nǐ men fàng xīn , shì wǒ , bú yào pà !」

Nhưng Đức Chúa Jêsus liền phán rằng: Các ngươi hãy yên lòng; ấy là ta đây, đừng sợ!

:「。」

bǐ dé shuō :「 zhǔ , rú guǒ shì nǐ , qǐng jiào wǒ cóng shuǐ miàn shàng zǒu dào nǐ nà lǐ qù 。」

Phi-e-rơ bèn thưa rằng: Lạy Chúa, nếu phải Chúa, xin khiến tôi đi trên mặt nước mà đến cùng Chúa.

:「。」

yē sū shuō :「 nǐ lái ba 。」 bǐ dé jiù cóng chuán shàng xià qù , zài shuǐ miàn shàng zǒu , yào dào yē sū nà lǐ qù ;

Ngài phán rằng: Hãy lại đây! Phi-e-rơ ở trên thuyền bước xuống, đi bộ trên mặt nước mà đến cùng Đức Chúa Jêsus.

便:「!」

zhī yīn jiàn fēng shèn dà , jiù hài pà , jiāng yào chén xià qù , biàn hǎn zhe shuō :「 zhǔ a , jiù wǒ !」

Song khi thấy gió thổi, thì Phi-e-rơ sợ hãi, hòng sụp xuống nước, bèn la lên rằng: Chúa ơi, xin cứu lấy tôi!

:「?」

yē sū gǎn jǐn shēn shǒu lā zhù tā , shuō :「 nǐ zhè xiǎo xìn de rén nǎ , wèi shén me yí huò ne ?」

Tức thì Đức Chúa Jêsus giơ tay ra nắm lấy người, mà nói rằng: Hỡi người ít đức tin, sao ngươi hồ nghi làm vậy?

tā men shàng le chuán , fēng jiù zhù le 。

Ngài cùng Phi-e-rơ lên thuyền rồi, thì gió yên lặng.

:「 。」

zài chuán shàng de rén dōu bài tā , shuō :「 nǐ zhēn shì shén de ér zi le 。」

Các người trong thuyền bèn đến quì lạy Ngài mà nói rằng: Thầy thật là Con Đức Chúa Trời!

tā men guò le hǎi , lái dào gé ní sā lè dì fāng 。

Khi qua biển rồi, Ngài và môn đồ đến xứ Ghê-nê-xa-rết.

nà lǐ de rén yí rèn chū shì yē sū , jiù dǎ fā rén dào zhōu wéi dì fāng qù , bǎ suǒ yǒu de bìng rén dài dào tā nà lǐ ,

Người xứ đó nhận biết Ngài, thì sai người báo tin cho khắp các miền xung quanh, và họ đem các kẻ bịnh đến cùng Ngài,

zhī qiú yē sū zhǔn tā men mō tā de yī shang zǐ ; mō zhe de rén jiù dōu hǎo le 。

xin chỉ cho rờ đến viền áo mà thôi; vậy ai rờ đến cũng đều được lành bịnh cả.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.