中文圣经

MA-THI-Ơ 17

đã biết 0/246

guò le liù tiān , yē sū dài zhe bǐ dé 、 yǎ gè , hé yǎ gè de xiōng dì yuē hàn , àn àn dì shàng le gāo shān ,

Khỏi sáu ngày, Đức Chúa Jêsus đem Phi-e-rơ, Gia-cơ, và Giăng là em Gia-cơ, cùng Ngài đi tẻ lên núi cao.

jiù zài tā men miàn qián biàn le xíng xiàng , liǎn miàn míng liàng rú rì tou , yī shang jié bái rú guāng 。

Ngài biến hóa trước mặt các người ấy, mặt Ngài sáng lòa như mặt trời, áo Ngài trắng như ánh sáng.

西

hū rán , yǒu mó xī 、 yǐ lì yà xiàng tā men xiǎn xiàn , tóng yē sū shuō huà 。

Nầy, có Môi-se và Ê-li hiện đến, nói chuyện cùng Ngài.

:「西。」

bǐ dé duì yē sū shuō :「 zhǔ a , wǒ men zài zhè lǐ zhēn hǎo ! nǐ ruò yuàn yì , wǒ jiù zài zhè lǐ dā sān zuò péng , yí zuò wèi nǐ , yí zuò wèi mó xī , yí zuò wèi yǐ lì yà 。」

Phi-e-rơ bèn cất tiếng thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Lạy Chúa, chúng ta ở lại đây thì tốt lắm; ví bằng đẹp ý Chúa, thì tôi sẽ đóng ba trại tại đây, một cái cho Chúa, một cái cho Môi-se và một cái cho Ê-li.

:「!」

shuō huà zhī jiān , hū rán yǒu yì duǒ guāng míng de yún cǎi zhē gài tā men , qiě yǒu shēng yīn cóng yún cǎi lǐ chū lái , shuō :「 zhè shì wǒ de ài zǐ , wǒ suǒ xǐ yuè de 。 nǐ men yào tīng tā !」

Đang khi người còn nói, bỗng chúc có một đám mây sáng rực che phủ những người ở đó; và có tiếng từ trong mây phán rằng: Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường; hãy nghe lời Con đó!

mén tú tīng jiàn , jiù fǔ fú zài dì , jí qí hài pà 。

Khi môn đồ nghe tiếng ấy, thì té sấp mặt xuống đất, và sợ hãi lắm.

:「!」

yē sū jìn qián lái , mō tā men , shuō :「 qǐ lái , bú yào hài pà !」

Song Đức Chúa Jêsus lại gần, rờ môn đồ mà phán rằng: Hãy đứng dậy, đừng sợ!

tā men jǔ mù bú jiàn yì rén , zhǐ jiàn yē sū zài nà lǐ 。

Môn đồ bèn ngửa mặt lên, thì chỉ thấy một mình Đức Chúa Jêsus mà thôi.

:「。」

xià shān de shí hòu , yē sū fēn fù tā men shuō :「 rén zǐ hái méi yǒu cóng sǐ lǐ fù huó , nǐ men bú yào jiāng suǒ kàn jiàn de gào sù rén 。」

Đang khi Đức Chúa Jêsus và môn đồ ở trên núi xuống, thì Ngài ra lịnh cấm rằng: Sự các ngươi đã thấy chớ thuật lại cùng ai, cho đến khi Con người từ kẻ chết sống lại.

:「?」

mén tú wèn yē sū shuō :「 wén shì wèi shén me shuō yǐ lì yà bì xū xiān lái ?」

Môn đồ hỏi Ngài rằng: Vậy thì sao các thầy thông giáo nói rằng Ê-li phải đến trước?

:「

yē sū huí dá shuō :「 yǐ lì yà gù rán xiān lái , bìng yào fù xīng wàn shì ;

Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Thật Ê-li phải đến mà sửa lại mọi việc.

。」

zhǐ shì wǒ gào sù nǐ men , yǐ lì yà yǐ jīng lái le , rén què bú rèn shi tā , jìng rèn yì dài tā 。 rén zǐ yě jiāng yào zhè yàng shòu tā men de hài 。」

Nhưng ta phán cùng các ngươi rằng: Ê-li đã đến rồi, và người ta không nhận biết, song họ lại xử với người theo ý muốn mình; Con người phải chịu khốn khổ bởi họ cũng như vậy.

mén tú zhè cái míng bái yē sū suǒ shuō de shì zhǐ zhe shī xǐ de yuē hàn 。

Môn đồ bèn hiểu rằng Ngài nói đó là nói về Giăng Báp-tít.

yē sū hé mén tú dào le zhòng rén nà lǐ , yǒu yí gè rén lái jiàn yē sū , guì xià ,

Khi Đức Chúa Jêsus và môn đồ đã trở lại cùng đoàn dân, thì có một người đến gần, quì trước mặt Ngài,

:「

shuō :「 zhǔ a , lián mǐn wǒ de ér zǐ ! tā hài diān xián de bìng hěn kǔ , lǚ cì diē zài huǒ lǐ , lǚ cì diē zài shuǐ lǐ 。

mà thưa rằng: Lạy Chúa, xin Chúa thương đến con trai tôi! vì nó mắc bệnh phong điên, phải chịu đau đớn quá; thường khi té vào lửa, và té xuống nước.

。」

wǒ dài tā dào nǐ mén tú nà lǐ , tā men què bù néng yī zhì tā 。」

Tôi đã đem nó cho môn đồ Chúa, nhưng chữa không được.

:「!」

yē sū shuō :「 ài ! zhè yòu bú xìn yòu bèi miù de shì dài a , wǒ zài nǐ men zhè lǐ yào dào jǐ shí ne ? wǒ rěn nài nǐ men yào dào jǐ shí ne ? bǎ tā dài dào wǒ zhè lǐ lái ba !」

Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi dòng dõi không tin và gian tà kia, ta sẽ ở với các ngươi cho đến chừng nào? Ta sẽ nhịn nhục các ngươi cho đến khi nào? Hãy đem con đến đây cho ta.

yē sū chì zé nà guǐ , guǐ jiù chū lái ; cóng cǐ hái zi jiù quán yù le 。

Rồi Đức Chúa Jêsus quở trách quỉ, quỉ liền ra khỏi đứa trẻ, và từ giờ đó đứa trẻ được lành.

:「?」

mén tú àn àn dì dào yē sū gēn qián , shuō :「 wǒ men wèi shén me bù néng gǎn chū nà guǐ ne ?」

Môn đồ bèn đến gần Đức Chúa Jêsus, mà hỏi riêng rằng: Vì cớ gì chúng tôi không đuổi quỉ ấy được?

:「:『』,

yē sū shuō :「 shì yīn nǐ men de xìn xīn xiǎo 。 wǒ shí zài gào sù nǐ men , nǐ men ruò yǒu xìn xīn , xiàng yí lì jiè cài zhǒng , jiù shì duì zhè zuò shān shuō :『 nǐ cóng zhè biān nuó dào nà biān 』, tā yě bì nuó qù ; bìng qiě nǐ men méi yǒu yí jiàn bù néng zuò de shì le 。

Ngài đáp rằng: Aáy là tại các ngươi ít đức tin: vì ta nói thật cùng các ngươi, nếu các ngươi có đức tin bằng một hột cải, sẽ khiến núi nầy rằng: Hãy dời đây qua đó, thì nó liền dời qua, và không có sự gì mà các ngươi chẳng làm được.

。」

zhì yú zhè yí lèi de guǐ , ruò bù dǎo gào 、 jìn shí , tā jiù bù chū lái 。」

Nhưng thứ quỉ nầy nếu không cầu nguyện và không kiêng ăn thì chẳng trừ nó được.

:「

tā men hái zhù zài jiā lì lì de shí hòu , yē sū duì mén tú shuō :「 rén zǐ jiāng yào bèi jiāo zài rén shǒu lǐ 。

Đang khi Đức Chúa Jêsus và môn đồ trải qua trong xứ Ga-li-lê, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Con người sẽ bị nộp trong tay người ta.

。」

tā men yào shā hài tā , dì sān rì tā yào fù huó 。」 mén tú jiù dà dà dì yōu chóu 。

Họ sẽ giết Ngài, nhưng đến ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại. Các môn đồ bèn lo buồn lắm.

:「 ?」

dào le jiā bǎi nóng , yǒu shōu dīng shuì de rén lái jiàn bǐ dé , shuō :「 nǐ men de xiān shēng bú nà dīng shuì ma ?」

Khi đã đến thành Ca-bê-na-um, những người thâu thuế của đền thờ đến hỏi Phi-e-rơ rằng: Thầy ngươi có nộp tiền thuế chăng?

:「。」:「西?」

bǐ dé shuō :「 nà 。」 tā jìn le wū zi , yē sū xiān xiàng tā shuō :「 xī mén , nǐ de yì sī rú hé ? shì shàng de jūn wáng xiàng shuí zhēng shōu guān shuì 、 dīng shuì ? shì xiàng zì jǐ de ér zi ne ? shì xiàng wài rén ne ?」

Phi-e-rơ trả lời rằng: Có. Và khi Phi-e-rơ vào nhà, thì Đức Chúa Jêsus hỏi đón trước rằng: Hỡi Si-môn, ngươi nghĩ sao? Các vua thế gian thâu lương lấy thuế ai? Thâu của con trai mình hay là của người ngoài?

:「。」:「

bǐ dé shuō :「 shì xiàng wài rén 。」 yē sū shuō :「 jì rán rú cǐ , ér zi jiù kě yǐ miǎn shuì le 。

Phi-e-rơ thưa rằng: Người ngoài. Ngài phán rằng: Vậy thì các con trai được miễn thuế!

。」

dàn kǒng pà chù fàn tā men , nǐ qiě wǎng hǎi biān qù diào yú , bǎ xiān diào shàng lái de yú ná qǐ lái , kāi le tā de kǒu , bì dé yí kuài qián , kě yǐ ná qù gěi tā men , zuò nǐ wǒ de shuì yín 。」

Song le, để chúng ta khỏi làm gương xấu cho họ, thì ngươi hãy ra biển câu cá, bắt lấy con cá nào dính câu trước hết, banh miệng nó ra, sẽ thấy một đồng bạc ở trong. Hãy lấy đồng bạc đó, và đem nộp thuế cho ta với ngươi.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.