中文圣经

DÂN SỐ 22

đã biết 0/301

yǐ sè liè rén qǐ xíng , zài mó yā píng yuán 、 yuē dàn hé dōng , duì zhe yē lì gē ān yíng 。

Đoạn dân Y-sơ-ra-ên đi, đến đóng trại trong đồng bằng Mô-áp, bên kia sông Giô-đanh, đối-diện Giê-ri-cô.

西

yǐ sè liè rén xiàng yà mó lì rén suǒ xíng de yí qiè shì , xī bō de ér zi bā lè dōu kàn jiàn le 。

Ba-lác, con trai Xếp-bô, thấy hết mọi điều Y-sơ-ra-ên đã làm cho dân A-mô-rít.

mó yā rén yīn yǐ sè liè mín shèn duō , jiù dà dà jù pà , xīn nèi yōu jí ,

Mô-áp lấy làm sợ sệt lắm và kinh khủng trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, vì dân đó rất đông.

:「。」西

duì mǐ diàn de zhǎng lǎo shuō :「 xiàn zài zhè zhòng rén yào bǎ wǒ men sì wéi suǒ yǒu de yí gài tiǎn jìn , jiù rú niú tiǎn jìn tián jiān de cǎo yì bān 。」 nà shí xī bō de ér zi bā lè zuò mó yā wáng 。

Vậy, Mô-áp nói cùng các trưởng lão Ma-đi-an rằng: Bây giờ, đoàn dân đông nầy sẽ nuốt hết thảy chung quanh ta, khác nào con bò ăn cỏ trong đồng vậy. Đang lúc đó, Ba-lác, con trai Xếp-bô, làm vua Mô-áp.

使:「

tā chāi qiǎn shǐ zhě wǎng dà hé biān de pí duó qù , dào bǐ ěr de ér zi bā lán běn xiāng nà lǐ , zhào bā lán lái , shuō :「 yǒu yì zōng mín cóng āi jí chū lái , zhē mǎn dì miàn , yǔ wǒ duì jū 。

Người sai sứ giả đến cùng Ba-la-am, con trai Bê-ô, ở Phê-thô-rơ, tại trên mé sông, trong xứ của con cái dân sự mình, đặng gọi người mà nói rằng: Nầy một dân đã ra khỏi xứ Ê-díp-tô, phủ khắp mặt đất, và đóng lại đối ngang ta.

。」

zhè mín bǐ wǒ qiáng shèng , xiàn zài qiú nǐ lái wèi wǒ zhòu zǔ tā men , huò zhě wǒ néng dé shèng , gōng dǎ tā men , gǎn chū cǐ dì 。 yīn wèi wǒ zhī dào , nǐ wèi shuí zhù fú , shuí jiù dé fú ; nǐ zhòu zǔ shuí , shuí jiù shòu zhòu zǔ 。」

Vậy, ta xin ngươi hãy đến bây giờ, rủa sả dân nầy cho ta, vì nó mạnh hơn ta. Có lẽ ta sẽ đánh bại dân nầy và đuổi nó khỏi xứ được; vì ta biết rằng kẻ nào ngươi chúc phước cho, thì được phước; còn kẻ nào ngươi rủa sả, thì bị rủa sả.

mó yā de zhǎng lǎo hé mǐ diàn de zhǎng lǎo shǒu lǐ ná zhe guà jīn , dào le bā lán nà lǐ , jiāng bā lè de huà dōu gào sù le tā 。

Vậy, các trưởng lão Mô-áp đi cùng các trưởng lão Ma-đi-an, trong tay có lễ vật cho thầy bói, đến cùng Ba-la-am mà thuật lại những lời của Ba-lác.

:「宿。」使

bā lán shuō :「 nǐ men jīn yè zài zhè lǐ zhù sù , wǒ bì zhào yē hé huá suǒ xiǎo yù wǒ de huí bào nǐ men 。」 mó yā de shǐ chén jiù zài bā lán nà lǐ zhù xià le 。

Người đáp rằng: Hãy ở lại đây đêm nay thì ta sẽ trả lời theo như lời Đức Giê-hô-va sẽ phán cùng ta. Các trưởng lão Mô-áp ở lại nhà Ba-la-am.

:「?」

shén lín dào bā lán nà lǐ , shuō :「 zài nǐ zhè lǐ de rén dōu shì shuí ?」

Vả, Đức Chúa Trời đến cùng Ba-la-am và phán rằng: Những người ngươi có trong nhà là ai?

:「西

bā lán huí dá shuō :「 shì mó yā wáng xī bō de ér zi bā lè dǎ fā rén dào wǒ zhè lǐ lái , shuō :

Ba-la-am thưa cùng Đức Chúa Trời rằng: Ba-lác, con trai Xếp-bô, vua Mô-áp, đã sai đến tôi đặng nói rằng:

。』」

『 cóng āi jí chū lái de mín zhē mǎn dì miàn , nǐ lái wèi wǒ zhòu zǔ tā men , huò zhě wǒ néng yǔ tā men zhēng zhàn , bǎ tā men gǎn chū qù 。』」

Nầy, một dân đã ra khỏi xứ Ê-díp-tô, phủ khắp mặt đất; hãy đến bây giờ, rủa sả dân đó cho ta; có lẽ ta sẽ đánh bại dân nầy và đuổi nó được.

:「。」

shén duì bā lán shuō :「 nǐ bù kě tóng tā men qù , yě bù kě zhòu zǔ nà mín , yīn wèi nà mín shì méng fú de 。」

Đức Chúa Trời phán cùng Ba-la-am rằng: Ngươi chớ đi với chúng nó, chớ rủa sả dân nầy, vì dân nầy được ban phước.

使:「。」

bā lán zǎo chén qǐ lái , duì bā lè de shǐ chén shuō :「 nǐ men huí běn dì qù ba , yīn wèi yē hé huá bù róng wǒ hé nǐ men tóng qù 。」

Sớm mai Ba-la-am dậy, nói cùng các sứ thần của Ba-lác rằng: Hãy trở về xứ các ngươi, vì Đức Giê-hô-va không cho ta đi cùng các ngươi.

使:「。」

mó yā de shǐ chén jiù qǐ lái , huí bā lè nà lǐ qù , shuō :「 bā lán bù kěn hé wǒ men tóng lái 。」

Vậy, các sứ thần Mô-áp dậy, trở về Ba-lác mà tâu rằng: Ba-la-am từ chối đến cùng chúng tôi.

使

bā lè yòu chāi qiǎn shǐ chén , bǐ xiān qián de yòu duō yòu zūn guì 。

Ba-lác lại sai nhiều sứ thần hơn và tôn trọng hơn những người trước,

:「西:『

tā men dào le bā lán nà lǐ , duì tā shuō :「 xī bō de ér zǐ bā lè zhè yàng shuō :『 qiú nǐ bù róng shén me shì lán zǔ nǐ bú dào wǒ zhè lǐ lái ,

đến cùng Ba-la-am mà rằng: Ba-lác, con trai Xếp-bô, có nói như vầy: Ta xin ngươi, chớ có chi ngăn cản ngươi đến cùng ta,

使。』」

yīn wèi wǒ bì shǐ nǐ dé jí dà de zūn róng 。 nǐ xiàng wǒ yào shén me , wǒ jiù gěi nǐ shén me ; zhī qiú nǐ lái wèi wǒ zhòu zǔ zhè mín 。』」

vì ta sẽ tôn ngươi rất vinh hiển, và làm theo mọi điều ngươi sẽ nói cùng ta. Ta xin ngươi hãy đến rủa sả dân nầy.

:「

bā lán huí dá bā lè de chén pú shuō :「 bā lè jiù shì jiāng tā mǎn wū de jīn yín gěi wǒ , wǒ xíng dà shì xiǎo shì yě bù dé yuè guò yē hé huá — wǒ shén de mìng 。

Ba-la-am đáp cùng các sứ thần của Ba-lác rằng: Dầu Ba-lác sẽ cho ta nhà người đầy vàng và bạc, ta cũng chẳng được vượt qua mạng của Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của ta, đặng làm một việc hoặc nhỏ hay lớn.

宿。」

xiàn zài wǒ qǐng nǐ men jīn yè zài zhè lǐ zhù sù , děng wǒ dé zhī yē hé huá hái yào duì wǒ shuō shén me 。」

Song ta xin các ngươi cũng ở lại đêm nay, đặng ta biết Đức Giê-hô-va sẽ phán điều chi cùng ta nữa.

:「。」

dāng yè , shén lín dào bā lán nà lǐ , shuō :「 zhè xiē rén ruò lái zhào nǐ , nǐ jiù qǐ lái tóng tā men qù , nǐ zhǐ yào zūn xíng wǒ duì nǐ suǒ shuō de huà 。」

Trong lúc ban đêm, Đức Chúa Trời giáng đến Ba-la-am mà phán rằng: Nếu các người ấy đến đặng gọi ngươi, hãy đứng dậy đi với chúng nó; nhưng chỉ hãy làm theo lời ta sẽ phán.

使

bā lán zǎo chén qǐ lái , bèi shàng lǘ , hé mó yā de shǐ chén yì tóng qù le 。

Vậy, sớm mai, Ba-la-am dậy, thắng lừa cái mình và đi với các sứ thần Mô-áp.

使

shén yīn tā qù jiù fā le nù ; yē hé huá de shǐ zhě zhàn zài lù shang dí dǎng tā 。 tā qí zhe lǘ , yǒu liǎng gè pú rén gēn suí tā 。

Nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời nổi phừng lên, vì người ra đi; thiên sứ của Đức Giê-hô-va đứng trên đường đặng cản người. Vả, người đã cỡi lừa cái mình, và có hai đứa đầy tớ đi theo.

使便

lǘ kàn jiàn yē hé huá de shǐ zhě zhàn zài lù shang , shǒu lǐ yǒu bá chū lái de dāo , jiù cóng lù shang kuà jìn tián jiān , bā lán biàn dǎ lǘ , yào jiào tā huí zhuǎn shàng lù 。

Lừa cái thấy thiên sứ của Đức Giê-hô-va đứng trên đường có cây gươm trần nơi tay, bèn tẻ đường đi vào trong ruộng; Ba-la-am đánh nó đặng dẫn nó vào đường lại.

使

yē hé huá de shǐ zhě jiù zhàn zài pú táo yuán de zhǎi lù shang ; zhè biān yǒu qiáng , nà biān yě yǒu qiáng 。

Nhưng thiên sứ của Đức Giê-hô-va đứng trong đường nhỏ của vườn nho có vách bên nầy và bên kia.

使

lǘ kàn jiàn yē hé huá de shǐ zhě , jiù tiē kào qiáng , jiāng bā lán de jiǎo jǐ shāng le ; bā lán yòu dǎ lǘ 。

Lừa thấy thiên sứ của Đức Giê-hô-va thì nép vào vách và ép chân Ba-la-am; người đánh nó.

使

yē hé huá de shǐ zhě yòu wǎng qián qù , zhàn zài xiá zhǎi zhī chù , zuǒ yòu dōu méi yǒu zhuǎn zhé de dì fāng 。

Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đi tới xa hơn, đứng trong một ngả rất hẹp không chỗ nào trở qua bên hữu hay là bên tả;

使

lǘ kàn jiàn yē hé huá de shǐ zhě , jiù wò zài bā lán dǐ xià , bā lán fā nù , yòng zhàng dǎ lǘ 。

lừa thấy thiên sứ của Đức Giê-hô-va bèn nằm quị dưới Ba-la-am. Nhưng Ba-la-am nổi giận, đánh lừa bằng một cây gậy.

:「?」

yē hé huá jiào lǘ kāi kǒu , duì bā lán shuō :「 wǒ xiàng nǐ xíng le shén me , nǐ jìng dǎ wǒ zhè sān cì ne ?」

Bấy giờ, Đức Giê-hô-va mở miệng lừa ra, nó nói cùng Ba-la-am rằng: Tôi có làm chi cho người, mà người đã đánh tôi ba lần?

:「。」

bā lán duì lǘ shuō :「 yīn wèi nǐ xì nòng wǒ , wǒ hèn bù néng shǒu zhōng yǒu dāo , bǎ nǐ shā le 。」

Ba-la-am đáp cùng lừa cái rằng: Aáy là tại mầy khinh nhạo ta. Chớ chi ta có cây gươm trong tay, ta đã giết mầy rồi!

:「?」:「。」

lǘ duì bā lán shuō :「 wǒ bú shì nǐ cóng xiǎo shí zhí dào jīn rì suǒ qí de lǘ ma ? wǒ sù cháng xiàng nǐ zhè yàng xíng guò ma ?」 bā lán shuō :「 méi yǒu 。」

Lừa nói cùng Ba-la-am rằng: Tôi há chẳng phải là lừa của người mà người đã cỡi luôn đến ngày nay sao? Tôi há có thói làm như vậy cùng người chăng? Người đáp: Không.

使使便

dāng shí , yē hé huá shǐ bā lán de yǎn mù míng liàng , tā jiù kàn jiàn yē hé huá de shǐ zhě zhàn zài lù shang , shǒu lǐ yǒu bá chū lái de dāo , bā lán biàn dī tóu fǔ fú zài dì 。

Đức Giê-hô-va bèn mở mắt Ba-la-am ra, thấy thiên sứ của Đức Giê-hô-va đứng trong đường, tay cầm một cây gươm. Người cúi đầu và sấp mặt xuống đất.

使:「

yē hé huá de shǐ zhě duì tā shuō :「 nǐ wèi hé zhè sān cì dǎ nǐ de lǘ ne ? wǒ chū lái dí dǎng nǐ , yīn nǐ suǒ xíng de , zài wǒ miàn qián piān pì 。

Thiên sứ của Đức Giê-hô-va nói: Sao ngươi đã đánh lừa cái ngươi ba lần? Nầy, ta đi ra đặng cản ngươi, vì ta thấy ngươi đi theo một con đường dẫn mình đến nơi hư nát.

。」

lǘ kàn jiàn wǒ jiù sān cì cóng wǒ miàn qián piān guò qù ; lǘ ruò méi yǒu piān guò qù , wǒ zǎo bǎ nǐ shā le , liú tā cún huó 。」

Vả, con lừa cái có thấy ta, đi tẻ trước mặt ta ba lần, nếu nó không đi tẻ trước mặt ta, chắc ta đã giết ngươi rồi và để nó sống.

使:「。」

bā lán duì yē hé huá de shǐ zhě shuō :「 wǒ yǒu zuì le 。 wǒ bù zhī dào nǐ zhàn zài lù shang zǔ dǎng wǒ ; nǐ ruò bù xǐ huan wǒ qù , wǒ jiù zhuǎn huí 。」

Ba-la-am bèn thưa cùng thiên sứ của Đức Giê-hô-va rằng: Tôi có phạm tội, vì chẳng biết người đã đứng trong đường đặng cản tôi, bây giờ, nếu người không bằng lòng tôi đi, tôi sẽ trở về.

使:「。」使

yē hé huá de shǐ zhě duì bā lán shuō :「 nǐ tóng zhè xiē rén qù ba ! nǐ zhī yào shuō wǒ duì nǐ shuō de huà 。」 yú shì bā lán tóng zhe bā lè de shǐ chén qù le 。

Thiên sứ của Đức Giê-hô-va nói cùng Ba-la-am rằng: Hãy đi cùng các người đó, nhưng chỉ hãy nói điều chi ta sẽ phán dặn ngươi. Ba-la-am bèn đi cùng các sứ thần của Ba-lác.

bā lè tīng jiàn bā lán lái le , jiù wǎng mó yā jīng chéng qù yíng jiē tā ; zhè chéng shì zài biān jiè shàng , zài yà nèn hé páng 。

Khi Ba-lác hay rằng Ba-la-am đến, bèn đi ra tới thành Mô-áp ở gần khe Aït-nôn, tức là ở tận bờ cõi của xứ, mà nghinh tiếp người.

:「使?」

bā lè duì bā lán shuō :「 wǒ bú shì jí jí dì dǎ fā rén dào nǐ nà lǐ qù zhào nǐ ma ? nǐ wèi hé bú dào wǒ zhè lǐ lái ne ? wǒ qǐ bù néng shǐ nǐ dé zūn róng ma ?」

Ba-lác nói cùng Ba-la-am rằng: Ta há chẳng sai sứ vời ngươi sao? Sao ngươi không đến ta? Ta há không tôn vinh hiển cho ngươi được sao?

:「。」

bā lán shuō :「 wǒ yǐ jīng dào nǐ zhè lǐ lái le ! xiàn zài wǒ qǐ néng shàn zì shuō shén me ne ? shén jiāng shén me huà chuán gěi wǒ , wǒ jiù shuō shén me 。」

Ba-la-am đáp cùng Ba-lác rằng: Nầy tôi đã đến cùng vua, bây giờ tôi há có thể nói ra lời gì chăng? Tôi sẽ nói điều chi Đức Chúa Trời đặt trong miệng tôi vậy.

·

bā lán hé bā lè tóng háng , lái dào jī liè · hú suǒ 。

Ba-la-am đi cùng Ba-lác, đến Ki-ri-át-Hút-sốt.

使

bā lè zǎi le niú yáng , sòng gěi bā lán hé péi bàn de shǐ chén 。

Ba-lác giết những bò và chiên, sai dâng cho Ba-la-am và các sứ thần đã đi với người.

dào le zǎo chén , bā lè lǐng bā lán dào bā lì de gāo chù ; bā lán cóng nà lǐ guān kàn yǐ sè liè yíng de biān jiè 。

Khi đến sáng mai, Ba-lác đem Ba-la-am lên Ba-mốt-Ba-anh, là nơi người thấy đầu cùng trại quân Y-sơ-ra-ên.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.