中文圣经

DÂN SỐ 21

đã biết 0/291

zhù nán dì de jiā nán rén yà lā dé wáng , tīng shuō yǐ sè liè rén cóng yà tā lín lù lái , jiù hé yǐ sè liè rén zhēng zhàn , lǔ le tā men jǐ gè rén 。

Khi vua A-rát, người Ca-na-an, ở nơi Nam phương, hay rằng Y-sơ-ra-ên theo đường do thám đi đến, bèn hãm đánh Y-sơ-ra-ên, và bắt mấy người cầm tù.

:「。」

yǐ sè liè rén xiàng yē hé huá fà yuàn shuō :「 nǐ ruò jiāng zhè mín jiāo fù wǒ shǒu , wǒ jiù bǎ tā men de chéng yì jìn xíng huǐ miè 。」

Y-sơ-ra-ên bèn hứa nguyện cùng Đức Giê-hô-va rằng: Nếu Chúa phó dân nầy vào tay tôi, tất tôi sẽ diệt các thành của nó.

便

yē hé huá yìng yǔn le yǐ sè liè rén , bǎ jiā nán rén jiāo fù tā men , tā men jiù bǎ jiā nán rén hé jiā nán rén de chéng yì jìn xíng huǐ miè 。 nà dì fāng de míng biàn jiào hé ěr mǎ 。

Đức Giê-hô-va nhậm lời dân Y-sơ-ra-ên và phó dân Ca-na-an cho. Người ta diệt hết dân đó và các thành của nó, đặt tên chỗ nầy là Họt-ma.

tā men cóng hé ěr shān qǐ xíng , wǎng hóng hǎi nà tiáo lù zǒu , yào rào guò yǐ dōng dì 。 bǎi xìng yīn zhè lù nán xíng , xīn zhōng shèn shì fán zào ,

Đoạn, dân Y-sơ-ra-ên đi từ núi Hô-rơ về hướng Biển đỏ, đặng đi vòng theo xứ Ê-đôm; giữa đường dân sự ngã lòng.

西:「使。」

jiù yuàn shén hé mó xī shuō :「 nǐ men wèi shén me bǎ wǒ men cóng āi jí lǐng chū lái 、 shǐ wǒ men sǐ zài kuàng yě ne ? zhè lǐ méi yǒu liáng , méi yǒu shuǐ , wǒ men de xīn yàn wù zhè dàn báo de shí wù 。」

Vậy, dân sự nói nghịch cùng Đức Chúa Trời và Môi-se mà rằng: Làm sao người khiến chúng tôi lên khỏi xứ Ê-díp-tô đặng chết trong đồng vắng? Vì đây không có bánh, cũng không có nước, và linh hồn chúng tôi đã ghê gớm thứ đồ ăn đạm bạc nầy.

使

yú shì yē hé huá shǐ huǒ shé jìn rù bǎi xìng zhōng jiān , shé jiù yǎo tā men 。 yǐ sè liè rén zhōng sǐ le xǔ duō 。

Đức Giê-hô-va sai con rắn lửa đến trong dân sự, cắn dân đó đến đỗi người Y-sơ-ra-ên chết rất nhiều.

西:「 。」西

bǎi xìng dào mó xī nà lǐ , shuō :「 wǒ men yuàn yē hé huá hé nǐ , yǒu zuì le 。 qiú nǐ dǎo gào yē hé huá , jiào zhè xiē shé lí kāi wǒ men 。」 yú shì mó xī wèi bǎi xìng dǎo gào 。

Dân sự bèn đến cùng Môi-se mà nói rằng: Chúng tôi có phạm tội, vì đã nói nghịch Đức Giê-hô-va và người. Hãy cầu xin Đức Giê-hô-va để Ngài khiến rắn lìa xa chúng tôi. Môi-se cầu khẩn cho dân sự.

西:「。」

yē hé huá duì mó xī shuō :「 nǐ zhì zào yì tiáo huǒ shé , guà zài gān zi shàng ; fán bèi yǎo de , yí wàng zhè shé , jiù bì dé huó 。」

Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy làm lấy một con rắn lửa, rồi treo nó trên một cây sào. Nếu ai bị cắn và nhìn nó, thì sẽ được sống.

西便

mó xī biàn zhì zào yì tiáo tóng shé , guà zài gān zi shàng ; fán bèi shé yǎo de , yí wàng zhè tóng shé jiù huó le 。

Vậy, Môi-se làm một con rắn bằng đồng, rồi treo lên một cây sào; nếu người nào đã bị rắn cắn mà nhìn con rắn bằng đồng, thì được sống.

yǐ sè liè rén qǐ xíng , ān yíng zài ā bó 。

Kế đó, dân Y-sơ-ra-ên đi và đóng trại tại Ô-bốt.

·

yòu cóng ā bó qǐ xíng , ān yíng zài yǐ yē · yà bā lín , yǔ mó yā xiāng duì de kuàng yě , xiàng rì chū zhī dì 。

Đoạn, đi từ Ô-bốt và đóng trại tại Y-giê-A-ba-rim, tại đồng vắng, đối ngang Mô-áp về hướng mặt trời mọc.

cóng nà lǐ qǐ xíng , ān yíng zài sā liè gǔ 。

Họ đi từ đó đóng trại tại đèo Xê-rết.

cóng nà lǐ qǐ xíng , ān yíng zài yà nèn hé nà biān 。 zhè yà nèn hé shì zài kuàng yě , cóng yà mó lì de jìng jiè liú chū lái de ; yuán lái yà nèn hé shì mó yā de biān jiè , zài mó yā hé yà mó lì rén dā jiè de dì fāng 。

Rồi từ đó đi và đóng trại phía bên kia Aït-nôn, ở trong đồng vắng, vừa ra bờ cõi dân A-mô-rít; vì Aït-nôn là giáp-ranh của dân Mô-áp và dân A-mô-rít.

:「

suǒ yǐ yē hé huá de zhàn jì shàng shuō :「 sū fǎ de wā hā bó yǔ yà nèn hé de gǔ ,

Bởi cớ đó, trong sách chiến trận của Đức Giê-hô-va có nói rằng: Va-hép ở tại Su-pha, và trũng Aït-nôn,

。」

bìng xiàng yà ěr chéng zhòng gǔ de xià pō , shì kào jìn mó yā de jìng jiè 。」

cùng những triền trũng chạy xuống phía A-rơ, và đụng ranh Mô-áp.

西:「」,

yǐ sè liè rén cóng nà lǐ qǐ xíng , dào le bǐ ěr 。 cóng qián yē hé huá fēn fù mó xī shuō :「 zhāo jù bǎi xìng , wǒ hǎo gěi tā men shuǐ hē 」, shuō de jiù shì zhè jǐng 。

Từ đó dân Y-sơ-ra-ên đến Bê-re, ấy đó là cái giếng mà Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy nhóm hiệp dân sự, ta sẽ cho chúng nó nước.

dāng shí , yǐ sè liè rén chàng gē shuō : jǐng a , yǒng shàng shuǐ lái ! nǐ men yào xiàng zhè jǐng gē chàng 。

Y-sơ-ra-ên bèn hát bài nầy: Hỡi giếng, hãy tuôn lên! hãy ca hát cho nó!

zhè jǐng shì shǒu lǐng hé mín zhōng de zūn guì rén yòng guī yòng zhàng suǒ wā suǒ jué de 。 yǐ sè liè rén cóng kuàng yě wǎng mǎ tā ná qù ,

Giếng mà các vua chúa đã khai, Các tước vị của dân sự đã đào Với phủ việt cùng cây gậy mình!

cóng mǎ tā ná dào ná hā liè , cóng ná hā liè dào bā mò ,

Kế đó, từ đồng vắng dân Y-sơ-ra-ên đến Ma-tha-na; rồi từ Ma-tha-na đến Na-ha-li-ên; từ Na-ha-li-ên đến Ba-mốt;

cóng bā mò dào mó yā dì de gǔ , yòu dào nà xià wàng kuàng yě zhī pí sī jiā de shān dǐng 。

và từ Ba-mốt đến trũng ở trong bờ cõi Mô-áp, tại chót núi Phích-ga, là nơi người ta nhìn thấy đồng bằng của sa mạc.

使西

yǐ sè liè rén chāi qiǎn shǐ zhě qù jiàn yà mó lì rén de wáng xī hóng , shuō :

Vả, Y-sơ-ra-ên sai sứ giả đến Si-hôn, vua dân A-mô-rít, đặng nói rằng:

。」

「 qiú nǐ róng wǒ men cóng nǐ de dì jīng guò ; wǒ men bù piān rù tián jiān hé pú táo yuán , yě bù hē jǐng lǐ de shuǐ , zhī zǒu dà dào , zhí dào guò le nǐ de jìng jiè 。」

Xin cho phép chúng tôi đi ngang qua xứ vua, chúng tôi sẽ không xây vào đồng ruộng, hay là vào vườn nho, và chúng tôi cũng sẽ không uống nước các giếng, cứ đi đường cái của vua cho đến chừng nào qua khỏi bờ cõi vua.

西

xī hóng bù róng yǐ sè liè rén cóng tā de jìng jiè jīng guò , jiù zhāo jù tā de zhòng mín chū dào kuàng yě , yào gōng jī yǐ sè liè rén , dào le yǎ zá yǔ yǐ sè liè rén zhēng zhàn 。

Nhưng Si-hôn không cho phép Y-sơ-ra-ên đi ngang qua bờ cõi mình, bèn hiệp hết dân sự mình đi ra đón Y-sơ-ra-ên về hướng đồng vắng; người đến Gia-hát, chiến trận cùng Y-sơ-ra-ên.

yǐ sè liè rén yòng dāo shā le tā , dé le tā de dì , cóng yà nèn hé dào yǎ bó hé , zhí dào yà mén rén de jìng jiè , yīn wèi yà mén rén de jìng jiè duō yǒu jiān lěi 。

Song Y-sơ-ra-ên dùng lưỡi gươm đánh bại người, và chiếm xứ người từ Aït-nôn đến Gia-bốc, đến dân Am-môn; vì bờ cõi dân Am-môn bền vững.

yǐ sè liè rén duó qǔ zhè yí qiè de chéng yì , yě zhù yà mó lì rén de chéng yì , jiù shì xī shí běn yǔ xī shí běn de yí qiè xiāng cūn 。

Y-sơ-ra-ên chiếm hết các thành nầy, và ở trong các thành dân A-mô-rít, là ở tại Hết-bôn và trong các thành địa-hạt.

西西

zhè xī shí běn shì yà mó lì wáng xī hóng de jīng chéng ; xī hóng céng yǔ mó yā de xiān wáng zhēng zhàn , cóng tā shǒu zhōng duó qǔ le quán dì , zhí dào yà nèn hé 。

Vì Hết-bôn là thành của Si-hôn, vua dân A-mô-rít, là vua đã giao chiến cùng vua trước của Mô-áp, chiếm lấy khắp hết xứ người đến Aït-nôn.

西

suǒ yǐ nà xiē zuò shī gē de shuō : nǐ men lái dào xī shí běn ; yuàn xī hóng de chéng bèi xiū zào , bèi jiàn lì 。

Bởi cớ đó, những nhà văn sĩ nói rằng: Hãy đến Hết-bôn! Thành Si-hôn phải xây cất và lập vững!

西

yīn wèi yǒu huǒ cóng xī shí běn fā chū , yǒu huǒ yàn chū yú xī hóng de chéng , shāo jìn mó yā de yà ěr hé yà nèn hé qiū tán de jì sī 。

Vì có một đám lửa bởi thành Hết-bôn, Một ngọn lửa bởi thành Si-hôn mà ra; Nó thiêu đốt A-rơ của Mô-áp, Các chúa của nơi cao Aït-nôn

西

mó yā a , nǐ yǒu huò le ! jī mǒ de mín nǎ , nǐ men miè wáng le ! jī mǒ de nán zǐ táo bèn , nǚ zǐ bèi lǔ , jiāo fù yà mó lì de wáng xī hóng 。

Hỡi Mô-áp, khốn thay cho ngươi! Hỡi dân Kê-móc, ngươi đã diệt mất! Ngươi đã nộp con trai mình làm kẻ trốn tránh, Và con gái mình làm phu tù cho Si-hôn, vua A-mô-rít.

使

wǒ men shè le tā men ; xī shí běn zhí dào dǐ běn jìn jiē huǐ miè 。 wǒ men shǐ dì biàn chéng huāng chǎng , zhí dào nuó fǎ ; zhè nuó fǎ zhí yán dào mǐ dǐ bā 。

Chúng ta đã bắn tên nhằm chúng nó. Hết-bôn đã bị hủy diệt cho đến Đi-bôn. Chúng ta đã làm tàn hại đến Nô-phách, Lửa đã lan đến Mê-đê-ba.

zhè yàng , yǐ sè liè rén jiù zhù zài yà mó lì rén zhī dì 。

Vậy, Y-sơ-ra-ên ở trong xứ dân A-mô-rít.

西

mó xī dǎ fā rén qù kuī tàn yǎ xiè , yǐ sè liè rén jiù zhàn le yǎ xiè de zhèn shì , gǎn chū nà lǐ de yà mó lì rén 。

Môi-se sai đi do thám Gia-ê-xe, chiếm các thành bổn hạt và đuổi dân A-mô-rít ở tại đó.

yǐ sè liè rén zhuǎn huí , xiàng bā shān qù 。 bā shān wáng è hé tā de zhòng mín dōu chū lái , zài yǐ dé lái yǔ tā men jiāo zhàn 。

Đoạn, dân Y-sơ-ra-ên trở lại đi lên về hướng Ba-san, Oùc, vua Ba-san, và cả dân sự người đi ra đón đặng chiến trận tại Eát-rê-i.

西:「西。」

yē hé huá duì mó xī shuō :「 bú yào pà tā ! yīn wǒ yǐ jiāng tā hé tā de zhòng mín , bìng tā de dì , dōu jiāo zài nǐ shǒu zhōng ; nǐ yào dài tā xiàng cóng qián dài zhù xī shí běn de yà mó lì wáng xī hóng yì bān 。」

Nhưng Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Đừng sợ người, vì ta đã phó người, luôn dân sự và xứ người vào tay ngươi; ngươi khá làm cho người như đã làm cho Si-hôn, vua dân A-mô-rít ở tại Hết-bôn.

yú shì tā men shā le tā hé tā de zhòng zǐ , bìng tā de zhòng mín , méi yǒu liú xià yí gè , jiù dé le tā de dì 。

Vậy, dân Y-sơ-ra-ên đánh bại Oùc, các con trai người và cả dân sự người, cho đến chừng không còn người nào ở lại; dân Y-sơ-ra-ên chiếm lấy xứ người vậy.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.