中文圣经

DÂN SỐ 24

đã biết 0/266

bā lán jiàn yē hé huá xǐ huān cì fú yǔ yǐ sè liè , jiù bú xiàng qián liǎng cì qù qiú fǎ shù , què miàn xiàng kuàng yě 。

Ba-la-am thấy rõ Đức Giê-hô-va ưng ban phước cho Y-sơ-ra-ên, thì không cậy đến phù chú như những lần khác; nhưng người xây mặt về hướng đồng vắng,

bā lán jǔ mù , kàn jiàn yǐ sè liè rén zhào zhe zhī pài jū zhù 。 shén de líng jiù lín dào tā shēn shàng ,

nhướng mắt lên thấy Y-sơ-ra-ên đóng trại từng chi phái, và Thần Đức Chúa Trời cảm động người,

便

tā biàn tí qǐ shī gē shuō : bǐ ěr de ér zi bā lán shuō , yǎn mù bì zhù de rén shuō ,

bèn nói lời ca mình mà rằng: Lời ca của Ba-la-am, con trai Bê-ô, Lời ca của người có mắt mở ra,

dé tīng shén de yán yǔ , dé jiàn quán néng zhě de yì xiàng , yǎn mù zhēng kāi ér pú dǎo de rén shuō :

Lời ca của người nghe lời Đức Chúa Trời, Xem sự hiện thấy của Đấng Toàn năng, Sấp mình xuống và mắt mở ra:

yǎ gè a , nǐ de zhàng péng hé děng huá měi ! yǐ sè liè a , nǐ de zhàng mù hé qí huá lì !

Hỡi Gia-cốp! trại ngươi tốt dường bao! Hỡi Y-sơ-ra-ên! nhà tạm ngươi đẹp biết mấy!

rú jiē lián de shān gǔ , rú hé páng de yuán zǐ , rú yē hé huá suǒ zāi de chén xiāng shù , rú shuǐ biān de xiāng bǎi mù 。

Nó trương ra như trũng núi, Khác nào cánh vườn ở nơi mé sông, Tợ cây trầm hương mà Đức Giê-hô-va đã trồng, Tỉ như cây hương nam ở nơi mé nước.

shuǐ yào cóng tā de tǒng lǐ liú chū ; zhǒng zi yào sā zài duō shuǐ zhī chù 。 tā de wáng bì chāo guò yà jiǎ ; tā de guó bì yào zhèn xīng 。

Nước chảy tràn ngoài thùng chứa, Hột giống của người nhuần tưới dư dật, Vua người sẽ trổi cao hơn A-gát, Nước người được cao lên.

shén lǐng tā chū āi jí ; tā sì hū yǒu yě niú zhī lì 。 tā yào tūn chī dí guó , zhé duàn tā men de gǔ tou , yòng jiàn shè tòu tā men 。

Đức Chúa Trời đã dẫn người ra khỏi xứ Ê-díp-tô, Người có sức mạnh như bò rừng, Sẽ nuốt các nước, tức kẻ thù nghịch mình, Bẻ gãy xương chúng nó, đánh chúng nó bằng mũi tên mình.

tā dūn rú gōng shī , wò rú mǔ shī , shuí gǎn rě tā ? fán gěi nǐ zhù fú de , yuàn tā méng fú ; fán zhòu zǔ nǐ de , yuàn tā shòu zhòu zǔ 。

Người sụm xuống, nằm như sư tử đực, khác nào sư tử cái: Ai dễ khiến ngồi lên? Phước cho kẻ nào chúc phước ngươi, Rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi.

:「

bā lè xiàng bā lán shēng qì , jiù pāi qǐ shǒu lái , duì bā lán shuō :「 wǒ zhào nǐ lái wèi wǒ zhòu zǔ chóu dí , bú liào , nǐ zhè sān cì jìng wèi tā men zhù fú 。

Bấy giờ, Ba-lác nổi giận cùng Ba-la-am, vỗ tay mà nói cùng Ba-la-am rằng: Ta đã thỉnh ngươi đặng rủa sả kẻ thù nghịch ta; nầy, ngươi lại chúc phước cho chúng nó đã ba lần rồi!

使。」

rú jīn nǐ kuài huí běn dì qù ba ! wǒ xiǎng shǐ nǐ dé dà zūn róng , yē hé huá què zǔ zhǐ nǐ bù dé zūn róng 。」

Vậy, bây giờ, khá chạy trở về xứ ngươi! Ta đã nói ta sẽ tôn ngươi vinh hiển, nhưng nầy, Đức Giê-hô-va đã cản ngươi nhận lãnh.

:「使

bā lán duì bā lè shuō :「 wǒ qǐ bú shì duì nǐ suǒ chāi qiǎn dào wǒ nà lǐ de shǐ zhě shuō :

Ba-la-am đáp cùng Ba-lác rằng: Tôi há chẳng có nói cùng các sứ giả vua đã sai đến tôi rằng:

』?」

『 bā lè jiù shì jiāng tā mǎn wū de jīn yín gěi wǒ , wǒ yě bù dé yuè guò yē hé huá de mìng , píng zì jǐ de xīn yì xíng hǎo xíng dǎi 。 yē hé huá shuō shén me , wǒ jiù yào shuō shén me 』?」

Dầu Ba-lác cho tôi nhà người đầy bạc và vàng, tôi cũng chẳng được vượt qua mạng Đức Giê-hô-va để làm tự ý điều phải hay là điều quấy; tôi phải nói điều chi Đức Giê-hô-va sẽ phán!

。」

「 xiàn zài wǒ yào huí běn zú qù 。 nǐ lái , wǒ gào sù nǐ zhè mín rì hòu yào zěn yàng dài nǐ de mín 。」

Nầy, bây giờ, tôi trở cùng dân tôi, hãy lại, tôi sẽ cáo cho vua biết điều dân nầy ngày sau cùng sẽ làm cho dân sự vua.

tā jiù tí qǐ shī gē shuō : bǐ ěr de ér zi bā lán shuō : yǎn mù bì zhù de rén shuō ,

Người bèn nói lời ca mình mà rằng: Lời ca của Ba-la-am, con trai Bê-ô, Lời ca của người có mắt mở ra;

dé tīng shén de yán yǔ , míng bái zhì gāo zhě de yì zhǐ , kàn jiàn quán néng zhě de yì xiàng , yǎn mù zhēng kāi ér pú dǎo de rén shuō :

Lời ca của người nghe lời Đức Chúa Trời, Biết sự tri thức của Đấng Chí cao, Xem sự hiện thấy của Đấng Toàn năng, Sấp mình xuống mà mắt tự mở ra:

wǒ kàn tā què bú zài xiàn shí ; wǒ wàng tā què bú zài jìn rì 。 yǒu xīng yào chū yú yǎ gè , yǒu zhàng yào xīng yú yǐ sè liè , bì dǎ pò mó yā de sì jiǎo , huǐ huài rǎo luàn zhī zǐ 。

Tôi thấy Người, nhưng chẳng phải bây giờ; Tôi xem Người, nhưng chẳng phải ở gần; Một ngôi sao hiện ra từ Gia-cốp, Một cây phủ việt trồi lên từ Y-sơ-ra-ên; Người sẽ đâm lủng Mô-áp từ đầu nầy tới đầu kia, Hủy diệt dân hay dấy giặc nầy.

西

tā bì dé yǐ dōng wèi jī yè , yòu dé chóu dí zhī dì xī ěr wèi chǎn yè ; yǐ sè liè bì xíng shì yǒng gǎn 。

Người sẽ được Ê-đôm làm cơ nghiệp; Sẽ được Sê-i-rơ, là kẻ thù nghịch mình, làm sản nghiệp. Y-sơ-ra-ên sẽ tỏ ra sự cường thạnh mình.

yǒu yí wèi chū yú yǎ gè de , bì zhǎng dà quán ; tā yào chú miè chéng zhōng de yú mín 。

Đấng ra từ Gia-cốp sẽ cầm quyền, Người sẽ diệt những dân sót của thành.

bā lán guān kàn yà mǎ lì , jiù tí qǐ shī gē shuō : yà mǎ lì yuán wèi zhū guó zhī shǒu , dàn tā zhōng bì chén lún 。

Ba-la-am cũng thấy A-ma-léc, bèn nói lời ca mình rằng: A-ma-léc đứng đầu các nước; Nhưng sau cùng người sẽ bị diệt vong.

bā lán guān kàn jī ní rén , jiù tí qǐ shī gē shuō : nǐ de zhù chù běn shì jiān gù ; nǐ de wō cháo zuò zài yán xué zhōng 。

Kế đó, Ba-la-am thấy người Kê-nít, bèn nói lời ca mình rằng: Chỗ ở ngươi là bền vững, ì ngươi đóng trong hòn đá.

rán ér jī ní bì zhì shuāi wēi , zhí dào yà shù bǎ nǐ lǔ qù 。

Nhưng Ca-in sẽ bị hư nát, Cho đến khi A-su-rơ bắt dẫn tù ngươi.

bā lán yòu tí qǐ shī gē shuō : āi zāi ! shén xíng zhè shì , shuí néng dé huó ?

Người còn nói lời ca mình rằng: Oâi! khi Đức Chúa Trời đã làm các điều nầy, ai sẽ còn sống?

bì yǒu rén chéng chuán cóng jī tí jiè ér lái , kǔ hài yà shù , kǔ hài xī bó ; tā yě bì zhì chén lún 。

Nhưng sẽ có những tàu từ gành Kít-tim đến, Hà khắc A-su, hà khắc Hê-be. Rồi chính người cũng sẽ bị tuyệt diệt.

yú shì bā lán qǐ lái , huí tā běn dì qù ; bā lè yě huí qù le 。

Đoạn, Ba-la-am đứng dậy đi về bổn xứ. Ba-lác cũng lên đường.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.