中文圣经

KHẢI THỊ 5

đã biết 0/162

wǒ kàn jiàn zuò bǎo zuò de yòu shǒu zhōng yǒu shū juàn , lǐ wài dōu xiě zhe zì , yòng qī yìn fēng yán le 。

Rồi tôi thấy trong tay hữu Đấng ngồi trên ngôi một quyển sách viết cả trong lẫn ngoài, có đóng bảy cái ấn.

使:「?」

wǒ yòu kàn jiàn yí wèi dà lì de tiān shǐ dà shēng xuān chuán shuō :「 yǒu shuí pèi zhǎn kāi nà shū juàn , jiē kāi nà qī yìn ne ?」

Tôi cũng thấy một vị thiên sứ mạnh mẽ cất tiếng lớn kêu rằng: Ai đáng mở quyển sách nầy và tháo những ấn nầy?

zài tiān shàng 、 dì shàng 、 dì dǐ xià , méi yǒu néng zhǎn kāi 、 néng guān kàn nà shū juàn de 。

Dầu trên trời, dưới đất, bên dưới đất, không ai có thể mở quyển sách ấy hoặc nhìn xem nó nữa.

yīn wèi méi yǒu pèi zhǎn kāi 、 pèi guān kàn nà shū juàn de , wǒ jiù dà kū 。

Vì không có ai đáng mở quyển sách ấy hoặc nhìn xem nó nữa, nên tôi khóc dầm dề.

:「。」

zhǎng lǎo zhōng yǒu yí wèi duì wǒ shuō :「 bú yào kū ! kàn nǎ , yóu dà zhī pài zhōng de shī zi , dà wèi de gēn , tā yǐ dé shèng , néng yǐ zhǎn kāi nà shū juàn , jiē kāi nà qī yìn 。」

Bấy giờ, một người trong các trưởng lão nói với tôi rằng: Chớ khóc, kìa, sư tử của chi phái Giu-đa, tức là Chồi của vua Đa-vít, đã thắng, thì có thể mở quyển sách ấy và tháo bảy cái ấn ra.

wǒ yòu kàn jiàn bǎo zuò yǔ sì huó wù , bìng zhǎng lǎo zhī zhōng yǒu gāo yáng zhàn lì , xiàng shì bèi shā guò de , yǒu qī jiǎo qī yǎn , jiù shì shén de qī líng , fèng chāi qiǎn wǎng pǔ tiān xià qù de 。

Tôi lại thấy chính giữa ngôi và bốn con sanh vật, cùng chính giữa các trưởng lão, có một Chiên Con ở đó như đã bị giết; Chiên Con có bảy sừng và bảy mắt, là bảy vì thần của Đức Chúa Trời sai xuống khắp thế gian.

zhè gāo yáng qián lái , cóng zuò bǎo zuò de yòu shǒu lǐ ná le shū juàn 。

Chiên Con bước tới, lấy sách ở tay hữu đấng ngự trên ngôi.

tā jì ná le shū juàn , sì huó wù hé èr shí sì wèi zhǎng lǎo jiù fǔ fú zài gāo yáng miàn qián , gè ná zhe qín hé shèng mǎn le xiāng de jīn lú ; zhè xiāng jiù shì zhòng shèng tú de qí dǎo 。

Khi lấy sách, bốn con sanh vật và hai mươi bốn trưởng lão bèn sấp mình xuống trước mặt Chiên Con, mỗi kẻ cầm một cây đàn và những bình vàng đầy hương; đó là những lời cầu nguyện của các thánh.

tā men chàng xīn gē , shuō : nǐ pèi ná shū juàn , pèi jiē kāi qī yìn ; yīn wèi nǐ céng bèi shā , yòng zì jǐ de xuè cóng gè zú 、 gè fāng 、 gè mín 、 gè guó zhōng mǎi le rén lái , jiào tā men guī yú shén ,

Chúng hát một bài ca mới rằng: Ngài đáng lấy quyển sách mà mở những ấn ra; vì Ngài đã chịu giết lấy huyết mình mà chuộc cho Đức Chúa Trời những người thuộc về mọi chi phái, mọi tiếng, mọi dân tộc, mọi nước,

yòu jiào tā men chéng wéi guó mín , zuò jì sī guī yú shén , zài dì shàng zhí zhǎng wáng quán 。

và Ngài đã làm cho những người ấy nên nước, và thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời chúng ta; những người ấy sẽ trị vì trên mặt đất.

使

wǒ yòu kàn jiàn qiě tīng jiàn , bǎo zuò yǔ huó wù bìng cháng lǎo de zhōu wéi yǒu xǔ duō tiān shǐ de shēng yīn ; tā men de shù mù yǒu qiān qiān wàn wàn ,

Đoạn, tôi nhìn xem, nghe bốn bên ngôi và các sanh vật cùng các trưởng lão, có tiếng của vô số thiên sứ; thiên sứ hàng muôn hàng ngàn,

耀

dà shēng shuō : céng bèi shā de gāo yáng shì pèi dé quán bǐng 、 fēng fù 、 zhì huì 、 néng lì 、 zūn guì 、 róng yào 、 sòng zàn de 。

đồng nói lên một tiếng lớn rằng: Chiên Con đã chịu giết đáng được quyền phép, giàu có, khôn ngoan, năng lực, tôn quí, vinh hiển và ngợi khen!

耀

wǒ yòu tīng jiàn zài tiān shàng 、 dì shàng 、 dì dǐ xià 、 cāng hǎi lǐ , hé tiān dì jiān yí qiè suǒ yǒu bèi zào zhī wù , dōu shuō : dàn yuàn sòng zàn 、 zūn guì 、 róng yào 、 quán shì dōu guī gěi zuò bǎo zuò de hé gāo yáng , zhí dào yǒng yǒng yuǎn yuǎn !

Tôi lại nghe mọi vật dựng nên trên trời, dưới đất, bên dưới đất trên biển, cùng mọi vật ở đó đều nói rằng: Chúc cho Đấng ngồi trên ngôi cùng Chiên Con được ngợi khen, tôn quí vinh hiển và quyền phép cho đến đời đời!

:「!」

sì huó wù jiù shuō :「 ā men !」 zhòng zhǎng lǎo yě fǔ fú jìng bài 。

Rồi bốn con sanh vật đều nói: A-men. Và các trưởng lão sấp mình xuống mà thờ lạy.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.