中文圣经

I CÁC VUA 1

đã biết 0/341

dà wèi wáng nián jì lǎo mài , suī yòng bèi zhē gài , réng bù jué nuǎn 。

Vua Đa-vít đã già; tuổi cao; và mặc dầu người ta đắp áo cho người, cũng không thể ấm được.

:「使怀。」

suǒ yǐ chén pú duì tā shuō :「 bù rú wèi wǒ zhǔ wǒ wáng xún zhǎo yí gè chǔ nǚ , shǐ tā sì hòu wáng , fèng yǎng wáng , shuì zài wáng de huái zhōng , hǎo jiào wǒ zhǔ wǒ wáng dé nuǎn 。」

Các tôi tớ người nói với người rằng: Xin tìm cho vua chúa tôi một gái trẻ đồng trinh, để hầu hạ vua và săn sóc vua. Nàng sẽ nằm trong lòng vua, thì vua chúa tôi có thể ấm được.

yú shì zài yǐ sè liè quán jìng xún zhǎo měi mào de tóng nǚ , xún dé shū niàn de yí gè tóng nǚ yà bǐ shà , jiù dài dào wáng nà lǐ 。

Vậy người ta tìm trong khắp địa phận Y-sơ-ra-ên một người gái trẻ đẹp, và gặp được A-bi-sác, người Su-nem, dẫn nàng đến cùng vua.

zhè tóng nǚ jí qí měi mào , tā fèng yǎng wáng , cì hou wáng , wáng què méi yǒu yǔ tā qīn jìn 。

Người gái trẻ này rất là lịch sự. Nàng săn sóc và hầu hạ vua; nhưng vua không thân cận nàng.

:「」,

nà shí , hā jí de ér zi yà duō ní yǎ zì zūn , shuō :「 wǒ bì zuò wáng 」, jiù wèi zì jǐ yù bèi chē liàng 、 mǎ bīng , yòu pài wǔ shí rén zài tā qián tou bēn zǒu 。

Vả, A-đô-ni-gia, con trai Ha-ghít, tự tôn mà rằng: Ta sẽ làm vua. Người sắm xe và quân kỵ, cùng năm mươi người chạy trước mặt mình.

使:「?」

tā fù qīn sù lái méi yǒu shǐ tā yōu mèn , shuō :「 nǐ shì zuò shén me ne ?」 tā shèn jùn měi , shēng zài yā shā lóng zhī hòu 。

Cha người chẳng hề phiền lòng người mà hỏi rằng: Cớ sao mầy làm như vậy? Vả lại, A-đô-ni-gia rất đẹp, sanh ra kế sau Aùp-sa-lôm.

yà duō ní yǎ yǔ xǐ lǔ yǎ de ér zǐ yuē yā , hé jì sī yà bǐ yà tā shāng yì ; èr rén jiù shùn cóng tā , bāng zhù tā 。

Người bàn tính với Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia và với thầy tế lễ A-bia-tha; hai người theo phe A-đô-ni-gia và giúp đỡ người.

dàn jì sī sā dū 、 yē hé yē dà de ér zi bǐ ná yǎ 、 xiān zhī ná dān 、 shì měi 、 lì yǐ , bìng dà wèi de yǒng shì dōu bú shùn cóng yà duō ní yǎ 。

Nhưng thầy tế lễ Xa-đốc và Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, Na-than, thầy tiên tri, Si-mê-i, Rê-i, và các dõng sĩ của Đa-vít không theo phe A-đô-ni-gia.

·

yí rì , yà duō ní yǎ zài yǐn · luó jié páng 、 suǒ xī liè pán shí nà lǐ zǎi le niú yáng 、 féi dú , qǐng tā de zhū dì xiong , jiù shì wáng de zhòng zǐ , bìng suǒ yǒu zuò wáng chén pú de yóu dà rén ;

A-đô-ni-gia dâng những chiên, bò, và bò con mập bên hòn đá Xô-hê-lết, ở cạnh giếng Eân-Rô-ghên; rồi mời anh em mình, là các con trai của vua, và hết thảy những người Giu-đa phục sự vua.

wéi dú xiān zhī ná dān hé bǐ ná yǎ bìng yǒng shì , yǔ tā de xiōng dì suǒ luó mén , tā dōu méi yǒu qǐng 。

Nhưng người chẳng mời Na-than, là đấng tiên tri, Bê-na-gia, các dõng sĩ, cùng Sa-lô-môn, em mình.

:「

ná dān duì suǒ luó mén de mǔ qīn bá shì bā shuō :「 hā jí de ér zi yà duō ní yǎ zuò wáng le , nǐ méi yǒu tīng jiàn ma ? wǒ men de zhǔ dà wèi què bù zhī dào 。

Bấy giờ, Na-than nói với Bát-Sê-ba, mẹ của Sa-lô-môn, mà rằng: Bà há chẳng hay rằng A-đô-ni-gia, con trai Ha-ghít, đã làm vua, mà Đa-vít, chúa ta, chẳng hay biết sao?

xiàn zài wǒ kě yǐ gěi nǐ chū gè zhǔ yì , hǎo bǎo quán nǐ hé nǐ ér zi suǒ luó mén de xìng mìng 。

Thế thì, bây giờ, hãy nghe; tôi sẽ cho bà một kế để bà cứu mạng sống mình và mạng sống của Sa-lô-môn.

:『?』

nǐ jìn qù jiàn dà wèi wáng , duì tā shuō :『 wǒ zhǔ wǒ wáng a , nǐ bù céng xiàng bì nǚ qǐ shì shuō : nǐ ér zi suǒ luó mén bì jiē xù wǒ zuò wáng , zuò zài wǒ de wèi shàng ma ? xiàn zài yà duō ní yǎ zěn me zuò le wáng ne ?』

Hãy đi ra mắt vua Đa-vít, và tâu rằng: Oâi vua, chúa tôi! chúa há chẳng có thề cùng con đòi của chúa rằng: Con trai ngươi là Sa-lô-môn ắt sẽ trị vì kế ta, và nó sẽ ngồi trên ngôi ta, hay sao? Vậy, cớ sao A-đô-ni-gia trị vì?

。」

nǐ hái yǔ wáng shuō huà de shí hòu , wǒ yě suí hòu jìn qù , zhèng shí nǐ de huà 。」

Trong lúc bà tâu với vua như vậy, thì chính tôi cũng sẽ đi vào sau, làm cho quả quyết các lời của bà.

bá shì bā jìn rù nèi shì jiàn wáng , wáng shèn lǎo mài , shū niàn de tóng nǚ yà bǐ shà zhèng cì hou wáng 。

Vậy, Bát-Sê-ba đi đến cùng vua, tại trong phòng. Vua đã già lắm có A-bi-sác, người Su-nem, hầu hạ người.

:「?」

bá shì bā xiàng wáng qū shēn xià bài ; wáng shuō :「 nǐ yào shén me ?」

Bát-Sê-ba cúi mình xuống và lạy trước mặt vua. Vua hỏi rằng: Ngươi muốn chi?

:「 :『。』

tā shuō :「 wǒ zhǔ a , nǐ céng xiàng bì nǚ zhǐ zhe yē hé huá — nǐ de shén qǐ shì shuō :『 nǐ ér zi suǒ luó mén bì jiē xù wǒ zuò wáng , zuò zài wǒ de wèi shàng 。』

Bà tâu rằng: Chúa tôi ôi! chúa đã nhân danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúa thề cùng con đòi của chúa rằng: Sa-lô-môn con trai ngươi sẽ trị vì kế ta, và nó sẽ ngồi trên ngôi ta.

xiàn zài yà duō ní yǎ zuò wáng le , wǒ zhǔ wǒ wáng què bù zhī dào 。

Oâi vua chúa tôi! nhưng bây giờ, A-đô-ni-gia làm vua, mà chúa chẳng biết chi đến.

tā zǎi le xǔ duō niú yáng 、 féi dú , qǐng le wáng de zhòng zǐ hé jì sī yà bǐ yà tā , bìng yuán shuài yuē yā ; wéi dú wáng de pú rén suǒ luó mén , tā méi yǒu qǐng 。

Người lại có giết bò đực, bò tơ mập, và chiên rất nhiều, cũng có mời hết thảy các vương tử với A-bia-tha, thầy tế lễ, và Giô-áp, quan tổng binh; nhưng người không mời Sa-lô-môn, kẻ tôi tớ vua.

wǒ zhǔ wǒ wáng a , yǐ sè liè zhòng rén de yǎn mù dōu yǎng wàng nǐ , děng nǐ xiǎo yù tā men , zài wǒ zhǔ wǒ wáng zhī hòu shuí zuò nǐ de wèi 。

Oâi vua chúa tôi! cả Y-sơ-ra-ên đều xây mắt về vua, đợi vua cho họ biết ai là người kế vua phải ngồi trên ngai của vua, là chúa tôi.

。」

ruò bù rán , dào wǒ zhǔ wǒ wáng yǔ liè zǔ tóng shuì yǐ hòu , wǒ hé wǒ ér zi suǒ luó mén bì suàn wèi zuì rén le 。」

Chẳng vậy, khi vua chúa tôi an giấc với các tổ phụ, thì tôi và con trai tôi là Sa-lô-môn sẽ bị xử như kẻ có tội.

bá shì bā hái yǔ wáng shuō huà de shí hòu , xiān zhī ná dān yě jìn lái le 。

Bà đang còn tâu với vua, thì tiên tri Na-than đến.

:「。」

yǒu rén zòu gào wáng shuō :「 xiān zhī ná dān lái le 。」 ná dān jìn dào wáng qián , liǎn fú yú dì 。

Người ta đến thưa cùng vua rằng: Nầy có tiên tri Na-than. Na-than ra mắt vua, sấp mình xuống trước mặt người mà lạy.

:「

ná dān shuō :「 wǒ zhǔ wǒ wáng guǒ rán yìng xǔ yà duō ní yǎ shuō 『 nǐ bì jiē xù wǒ zuò wáng , zuò zài wǒ de wèi shàng 』 ma ?

và nói rằng: Oâi vua chúa tôi! có phải vua đã phán rằng: A-đô-ni-gia sẽ trị vì kế ta và ngồi trên ngai ta, chăng?

:『!』

tā jīn rì xià qù , zǎi le xǔ duō niú yáng 、 féi dú , qǐng le wáng de zhòng zǐ hé jūn zhǎng , bìng jì sī yà bǐ yà tā ; tā men zhèng zài yà duō ní yǎ miàn qián chī hē , shuō :『 yuàn yà duō ní yǎ wáng wàn suì !』

Thật vậy, ngày nay, người đã đi xuống giết bò, bò tơ mập, và chiên rất nhiều, cùng mời hết thảy các vương tử, quan tướng, và thầy tế lễ A-bia-tha; kìa, họ ăn uống tại trước mặt người, và la lên rằng: A-đô-ni-gia vạn tuế!

wéi dú wǒ , jiù shì nǐ de pú rén hé jì sī sā dū , yē hé yē dà de ér zi bǐ ná yǎ , bìng wáng de pú rén suǒ luó mén , tā dōu méi yǒu qǐng 。

Còn tôi là kẻ tôi tớ vua, thầy tế lễ Xa-đốc, Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, và Sa-lô-môn, tôi tớ vua, thì người chẳng có mời.

。」

zhè shì guǒ rán chū hū wǒ zhǔ wǒ wáng ma ? wáng què méi yǒu gào sù pú rén men , zài wǒ zhǔ wǒ wáng zhī hòu shuí zuò nǐ de wèi 。」

Việc này há phải bởi vua chúa tôi mà ra? Và lại vua không cho các tôi tớ vua biết ai là người kế vua, phải ngồi trên ngai của vua chúa tôi.

:「。」

dà wèi wáng fēn fù shuō :「 jiào bá shì bā lái 。」 bá shì bā jiù jìn lái , zhàn zài wáng miàn qián 。

Vua Đa-vít đáp rằng: Hãy gọi Bát-Sê-ba cho ta. Bà vào và đứng trước mặt vua.

:「

wáng qǐ shì shuō :「 wǒ zhǐ zhe jiù wǒ xìng mìng tuō lí yí qiè kǔ nàn 、 yǒng shēng de yē hé huá qǐ shì 。

Đa-vít bèn thề mà rằng: Nguyện Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng đã giải cứu mạng sống ta khỏi các hoạn nạn!

。」

wǒ jì rán zhǐ zhe yē hé huá — yǐ sè liè de shén xiàng nǐ qǐ shì shuō : nǐ ér zi suǒ luó mén bì jiē xù wǒ zuò wáng , zuò zài wǒ de wèi shàng 。 wǒ jīn rì jiù bì zhào zhè huà ér xíng 。」

Ta nhân danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà thề cùng ngươi rằng: Quả hẳn Sa-lô-môn, con trai ngươi, sẽ trị vì kế ta, nó sẽ ngồi trên ngai thế cho ta; thì ngày nay ta sẽ làm hoàn thành điều đó.

:「!」

yú shì , bá shì bā liǎn fú yú dì , xiàng wáng xià bài , shuō :「 yuàn wǒ zhǔ dà wèi wáng wàn suì !」

Bát-Sê-ba cúi mặt xuống đất và lạy trước mặt vua, mà tâu rằng: Nguyện vua Đa-vít, chúa tôi, vạn tuế!

:「!」

dà wèi wáng yòu fēn fù shuō :「 jiāng jì sī sā dū 、 xiān zhī ná dān 、 yē hé yē dà de ér zi bǐ ná yǎ zhào lái !」 tā men jiù dōu lái dào wáng miàn qián 。

Đoạn, vua Đa-vít nói: Hãy gọi cho ta thầy tế lễ Xa-đốc, tiên tri Na-than, và Bê-na-gia, con trai của Giê-hô-gia-đa. Mấy người ấy bèn ra mắt vua.

:「使

wáng duì tā men shuō :「 yào dài lǐng nǐ men zhǔ de pú rén , shǐ wǒ ér zi suǒ luó mén qí wǒ de luó zǐ , sòng tā xià dào jī xùn ;

Rồi vua nói với họ rằng: Hãy đem các đầy tớ của chủ các ngươi theo, đỡ Sa-lô-môn, con trai ta, lên cỡi con la của ta, rồi đưa nó đến Ghi-hôn.

:『!』

zài nà lǐ , jì sī sā dū hé xiān zhī ná dān yào gāo tā zuò yǐ sè liè de wáng ; nǐ men yě yào chuī jiǎo , shuō :『 yuàn suǒ luó mén wáng wàn suì !』

ỳ đó, thầy tế lễ Xa-đốc và tiên tri Na-than phải xức dầu cho người làm vua Y-sơ-ra-ên. Đoạn, các ngươi hãy thổi kèn lên mà hô rằng:

使。」

rán hòu yào gēn suí tā shàng lái , shǐ tā zuò zài wǒ de wèi shàng , jiē xù wǒ zuò wáng 。 wǒ yǐ lì tā zuò yǐ sè liè hé yóu dà de jūn 。」

Vua Sa-lô-môn vạn tuế! Các ngươi sẽ theo sau người trở lên, người sẽ đến ngồi trên ngai ta, và trị vì thế cho ta. Aáy là người mà ta đã lập làm vua của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa.

:「

yē hé yē dà de ér zi bǐ ná yǎ duì wáng shuō :「 ā men ! yuàn yē hé huá — wǒ zhǔ wǒ wáng de shén yě zhè yàng mìng dìng 。

Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa tâu cùng vua rằng: A-men! Giê-hô-va Đức Chúa Trời của vua chúa tôi, cũng phán định như vậy.

使。」

yē hé huá zěn yàng yǔ wǒ zhǔ wǒ wáng tóng zài , yuàn tā zhào yàng yǔ suǒ luó mén tóng zài , shǐ tā de guó wèi bǐ wǒ zhǔ dà wèi wáng de guó wèi gèng dà 。」

Đức Giê-hô-va đã ở cùng vua chúa tôi thể nào, nguyện Ngài cũng ở cùng Sa-lô-môn thể ấy, và khiến ngôi người còn cao trọng hơn ngôi của vua Đa-vít, là chúa tôi!

使

yú shì , jì sī sā dū 、 xiān zhī ná dān 、 yē hé yē dà de ér zi bǐ ná yǎ , hé jī lì tí rén 、 bǐ lì tí rén dōu xià qù shǐ suǒ luó mén qí dà wèi wáng de luó zǐ , jiāng tā sòng dào jī xùn 。

Đoạn, thầy tế lễ Xa-đốc, tiên tri Na-than, Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, những người Kê-rê-thít và Phê-lê-thít, đều đi xuống, đỡ Sa-lô-môn lên cỡi con la của vua Đa-vít rồi đưa người đến Ghi-hôn.

:「!」

jì sī sā dū jiù cóng zhàng mù zhōng qǔ le shèng gāo yóu de jiǎo lái , yòng gāo gāo suǒ luó mén 。 rén jiù chuī jiǎo , zhòng mín dōu shuō :「 yuàn suǒ luó mén wáng wàn suì !」

Thầy tế lễ Xa-đốc lấy cái sừng dầu trong Đền tạm, và xức cho Sa-lô-môn. Người ta thổi kèn, cả dân sự đều hô lên rằng: Vua Sa-lô-môn vạn tuế!

zhòng mín gēn suí tā shàng lái , qiě chuī dí , dà dà huān hū , shēng yīn zhèn dì 。

Chúng đều theo người đi lên, thổi sáo, và vui mừng khôn xiết, đến nỗi đất rúng động bởi tiếng la của họ.

:「?」

yà duō ní yǎ hé suǒ qǐng de zhòng kè yán yàn fāng bì , tīng jiàn zhè shēng yīn ; yuē yā tīng jiàn jiǎo shēng jiù shuō :「 chéng zhōng wèi hé yǒu zhè xiǎng shēng ne ?」

A-đô-ni-gia và hết thảy kẻ dự tiệc với mình đều nghe tiếng này khi vừa ăn xong. Lúc Giô-áp nghe tiếng kèn, thì nói: Sao trong thành có tiếng xôn xao ấy?

:「。」

tā zhèng shuō huà de shí hòu , jì sī yà bǐ yà tā de ér zi yuē ná dān lái le 。 yà duō ní yǎ duì tā shuō :「 jìn lái ba ! nǐ shì gè zhōng yì de rén , bì shì bào hǎo xìn xī 。」

Người hãy còn nói, kìa Giô-na-than, con trai thầy tế lễ A-bia-tha, chợt đến. A-đô-ni-gia nói với người rằng: Hãy vào, vì ngươi là một tay dõng sĩ, chắc ngươi đem những tin lành.

:「

yuē ná dān duì yà duō ní yǎ shuō :「 wǒ men de zhǔ dà wèi wáng chéng rán lì suǒ luó mén wèi wáng le 。

Nhưng Giô-na-than đáp với A-đô-ni-gia rằng: Thật trái hẳn. Vua Đa-vít, chúa chúng ta, đã lập Sa-lô-môn làm vua.

使

wáng chāi qiǎn jì sī sā dū 、 xiān zhī ná dān 、 yē hé yē dà de ér zi bǐ ná yǎ , hé jī lì tí rén 、 bǐ lì tí rén dōu qù shǐ suǒ luó mén qí wáng de luó zǐ 。

Vua có sai thầy tế lễ Xa-đốc, tiên tri Na-than, Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, người Kê-rê-thít cùng người Phê-lê-thít đi theo người, và họ đã đỡ người lên cỡi con la của vua.

使

jì sī sā dū hé xiān zhī ná dān zài jī xùn yǐ jīng gāo tā zuò wáng 。 zhòng rén dōu cóng nà lǐ huān hū zhe shàng lái , shēng yīn shǐ chéng zhèn dòng , zhè jiù shì nǐ men suǒ tīng jiàn de shēng yīn ;

Đoạn, tại Ghi-hôn, thầy tế lễ Xa-đốc và tiên tri Na-than đã xức dầu cho người làm vua; họ đã từ đó trở lên cách reo mừng, và cả thành đều vang động. Đó là tiếng xôn xao mà các ông đã nghe.

bìng qiě suǒ luó mén dēng le guó wèi 。

Lại, Sa-lô-môn đã ngồi trên ngôi nước;

:『 使使。』

wáng de chén pú yě lái wèi wǒ men de zhǔ dà wèi wáng zhù fú , shuō :『 yuàn wáng de shén shǐ suǒ luó mén de míng bǐ wáng de míng gèng zūn róng ; shǐ tā de guó wèi bǐ wáng de guó wèi gèng dà 。』 wáng jiù zài chuáng shàng qū shēn xià bài 。

các tôi tớ của vua đến chúc phước cho vua Đa-vít, chúa chúng ta, mà tâu rằng: Nguyện Đức Chúa Trời của vua làm cho danh Sa-lô-môn tôn vinh hơn danh của vua, và khiến cho ngôi người cao trọng hơn ngôi của vua! Rồi vua cúi lạy nơi giường mình;

:『 。』」

wáng yòu shuō :『 yē hé huá — yǐ sè liè de shén shì yīng dāng chēng sòng de ; yīn tā cì wǒ yì rén jīn rì zuò zài wǒ de wèi shàng , wǒ yě qīn yǎn kàn jiàn le 。』」

và có nói như vầy: Đáng khen ngợi thay Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, vì ngày nay Ngài có ban một người để ngồi trên ngôi của tôi mà mắt tôi xem thấy.

yà duō ní yǎ de zhòng kè tīng jiàn zhè huà jiù dōu jīng jù , qǐ lái sì sàn 。

Bấy giờ, hết thảy các người dự tiệc với A-đô-ni-gia đều bắt sợ hãi, đứng dậy, ai đi đường nấy.

yà duō ní yǎ jù pà suǒ luó mén , jiù qǐ lái , qù zhuā zhù jì tán de jiǎo 。

A-đô-ni-gia cũng sợ Sa-lô-môn, đứng dậy, chạy nắm các sừng bàn thờ.

:「:『。』」

yǒu rén gào sù suǒ luó mén shuō :「 yà duō ní yǎ jù pà suǒ luó mén wáng , xiàn zài zhuā zhù jì tán de jiǎo , shuō :『 yuàn suǒ luó mén wáng jīn rì xiàng wǒ qǐ shì , bì bú yòng dāo shā pú rén 。』」

Có người đến thuật cho Sa-lô-môn hay điều đó, rằng: Nầy, A-đô-ni-gia sợ vua Sa-lô-môn; kìa người đã nắm các sừng bàn thờ, mà nói rằng: Hôm nay, vua Sa-lô-môn hãy thề với tôi rằng vua sẽ không giết đầy tớ người bằng gươm.

:「。」

suǒ luó mén shuō :「 tā ruò zuò zhōng yì de rén , lián yì gēn tóu fa yě bú zhì luò zài dì shàng ; tā ruò xíng è , bì yào sǐ wáng 。」

Sa-lô-môn đáp rằng: Nếu người ăn ở ra người tử tế, thì chẳng một sợi tóc nào của người sẽ rụng xuống đất; bằng có thấy sự ác nơi người, ắt người sẽ chết.

使:「!」

yú shì suǒ luó mén wáng chāi qiǎn rén , shǐ yà duō ní yǎ cóng tán shàng xià lái , tā jiù lái , xiàng suǒ luó mén wáng xià bài ; suǒ luó mén duì tā shuō :「 nǐ huí jiā qù ba !」

Vua Sa-lô-môn sai kẻ đem người xuống khỏi bàn thờ. A-đô-ni-gia đến sấp mình xuống trước mặt Sa-lô-môn; Sa-lô-môn bèn nói với người rằng: Hãy trở về nhà ngươi.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.