中文圣经

I CÁC VUA 2

đã biết 0/380

dà wèi de sǐ qī lín jìn le , jiù zhǔ fù tā ér zi suǒ luó mén shuō :

Khi ngày của Đa-vít hầu trọn, người truyền lịnh cho Sa-lô-môn, con trai mình, mà rằng:

「 wǒ xiàn zài yào zǒu shì rén bì zǒu de lù 。 suǒ yǐ , nǐ dāng gāng qiáng , zuò dà zhàng fu ,

Ta hầu đi con đường chung của cả thế gian, khá mạnh dạn và nên người trượng phu!

西

zūn shǒu yē hé huá — nǐ shén suǒ fēn fù de , zhào zhe mó xī lǜ fǎ shàng suǒ xiě de xíng zhǔ de dào , jǐn shǒu tā de lǜ lì 、 jiè mìng 、 diǎn zhāng 、 fǎ dù 。 zhè yàng , nǐ wú lùn zuò shén me shì , bù jū wǎng hé chù qù , jìn dōu hēng tōng 。

Hãy giữ điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời muốn con giữ, để đi trong đường lối Ngài, gìn giữ những luật pháp, điều răn, mạng lịnh, và sự dạy dỗ của Ngài, y như đã chép trong luật pháp của Môi-se, hầu cho con làm điều chi hay là đi nơi nào cũng đều được thành công,

:『。』

yē hé huá bì chéng jiù xiàng wǒ suǒ yīng xǔ de huà shuō :『 nǐ de zǐ sūn ruò jǐn shèn zì jǐ de xíng wéi , jìn xīn jìn yì chéng chéng shí shí dì xíng zài wǒ miàn qián , jiù bú duàn rén zuò yǐ sè liè de guó wèi 。』

và Đức Giê-hô-va sẽ làm ứng nghiệm lời Ngài đã phán về ta, rằng: Nhược bằng các con trai ngươi cẩn thận về đường lối mình, hết lòng, hết ý theo lẽ thật mà đi ở trước mặt ta, thì ngươi sẽ chẳng hề thiếu người ngồi trên ngôi Y-sơ-ra-ên.

穿

nǐ zhī dào xǐ lǔ yǎ de ér zi yuē yā xiàng wǒ suǒ xíng de , jiù shì shā le yǐ sè liè de liǎng gè yuán shuài : ní ěr de ér zi yā ní ěr hé yì tiē de ér zi yà mǎ sā 。 tā zài tài píng zhī shí liú zhè èr rén de xuè , rú zài zhēng zhàn zhī shí yí yàng , jiāng zhè xuè rǎn le yāo jiān shù de dài hé jiǎo shàng chuān de xié 。

Con biết sự Giô-áp, con trai Xê-ru-gia, đã làm cho cha, sự nó đã làm cho hai quan tướng của Y-sơ-ra-ên, là Aùp-ne, con trai của Nê-rơ, và A-ma-sa, con trai của Giê-the, là hai người nó đã giết, làm đổ huyết ra trong lúc hòa bình như trong cơn chiến trận, và khiến cho huyết đổ ra trong chiến trận dính vào đai nó thắt lưng, cùng vào giày nó mang nơi chân.

suǒ yǐ nǐ yào zhào nǐ de zhì huì xíng , bù róng tā bái tóu ān rán xià yīn jiān 。

Con hãy cứ sự khôn ngoan con mà cư xử, chớ để đầu bạc nó xuống âm phủ cách bình yên.

西使

nǐ dāng ēn dài jī liè rén bā xī lái de zhòng zǐ , shǐ tā men cháng yǔ nǐ tóng xí chī fàn ; yīn wèi wǒ duǒ bì nǐ gē ge yā shā lóng de shí hòu , tā men ná shí wù lái yíng jiē wǒ 。

Con hãy ở với các con trai Bát-xi-lai, người Ga-la-át, cách nhân từ cho họ ăn đồng bàn cùng con; vì chính chúng nó đã đãi cha như vậy, mà đến đón rước cha, lúc cha chạy trốn trước mặt Aùp-sa-lôm, anh con.

便:『。』

zài nǐ zhè lǐ yǒu bā hù lín de biàn yǎ mǐn rén , jī lā de ér zi shì měi ; wǒ wǎng mǎ hā niàn qù de nà rì , tā yòng hěn dú de yán yǔ zhòu mà wǒ , hòu lái què xià yuē dàn hé yíng jiē wǒ , wǒ jiù zhǐ zhe yē hé huá xiàng tā qǐ shì shuō :『 wǒ bì bú yòng dāo shā nǐ 。』

Nầy còn kẻ ở với con, là Si-mê-i, con trai Ghê-ra, người Bên-gia-min, ở Ba-hu-rim, là kẻ lấy những lời độc ác mà nguyền rủa cha trong ngày cha đi đến Ma-ha-na-im; nhưng nó xuống đón cha tại Giô-đanh, thì cha đã nhân danh Đức Giê-hô-va mà thề với nó rằng: Ta sẽ chẳng giết ngươi bằng gươm.

使。」

xiàn zài nǐ bú yào yǐ tā wèi wú zuì 。 nǐ shì cōng ming rén , bì zhī dào zěn yàng dài tā , shǐ tā bái tóu jiàn shā , liú xuè xià dào yīn jiān 。」

Bây giờ, con chớ để nó khỏi phạt, vì con là khôn ngoan, biết thế nào phải xử nó: con khá làm cho đầu bạc nó dính máu mà xuống âm phủ.

dà wèi yǔ tā liè zǔ tóng shuì , zàng zài dà wèi chéng 。

Đa-vít an giấc với các tổ phụ mình, và được chôn trong thành Đa-vít.

dà wèi zuò yǐ sè liè wáng sì shí nián : zài xī bó zuò wáng qī nián , zài yē lù sā lěng zuò wáng sān shí sān nián 。

Những ngày Đa-vít trị vì trên Y-sơ-ra-ên là bốn mươi năm: người trị vì bảy năm tại Hếp-rôn, và ba mươi ba năm tại Giê-ru-sa-lem.

suǒ luó mén zuò tā fù qīn dà wèi de wèi , tā de guó shèn shì jiān gù 。

Đoạn, Sa-lô-môn ngồi trên ngai Đa-vít, cha mình, và nước người được lập rất vững bền.

:「?」:「」;

hā jí de ér zi yà duō ní yǎ qù jiàn suǒ luó mén de mǔ qīn bá shì bā , bá shì bā wèn tā shuō :「 nǐ lái shì wèi píng ān ma ?」 huí dá shuō :「 shì wèi píng ān 」;

A-đô-ni-gia, con trai Ha-ghít, đến cùng Bát-sê-ba, mẹ của Sa-lô-môn. Bà nói: Ngươi đến có ý bình an chớ? Người thưa rằng: Phải, có ý bình an.

:「。」:「。」

yòu shuō :「 wǒ yǒu huà duì nǐ shuō 。」 bá shì bā shuō :「 nǐ shuō ba 。」

Người lại rằng: Tôi có một lời nói cùng bà. Bà đáp: Hãy nói.

:「

yà duō ní yǎ shuō :「 nǐ zhī dào guó yuán shì guī wǒ de , yǐ sè liè zhòng rén yě dōu yǎng wàng wǒ zuò wáng , bú liào , guó fǎn guī le wǒ xiōng dì , yīn tā dé guó shì chū hū yē hé huá 。

Người tiếp: Bà biết rằng nước vốn thuộc về tôi, và cả Y-sơ-ra-ên đều mong thấy tôi trị vì; nhưng ngôi nước đã trở nên của em tôi, vì do nơi Đức Giê-hô-va mà thuộc về người.

。」:「。」

xiàn zài wǒ yǒu yí jiàn shì qiú nǐ , wàng nǐ bú yào tuī cí 。」 bá shì bā shuō :「 nǐ shuō ba 。」

Vậy bây giờ, tôi có một sự xin với bà, chớ từ chối. Bà đáp: Hãy nói.

:「。」

tā shuō :「 qiú nǐ qǐng suǒ luó mén wáng jiāng shū niàn de nǚ zǐ yà bǐ shà cì wǒ wèi qī , yīn tā bì bù tuī cí nǐ 。」

Người nói: Xin bà hãy nói với vua Sa-lô-môn (vì người chẳng chối gì với bà), và cầu người cho tôi lấy A-bi-sác, người Su-nem, làm vợ.

:「。」

bá shì bā shuō :「 hǎo , wǒ bì wèi nǐ duì wáng tí shuō 。」

Bát-Sê-ba đáp: Được, ta sẽ nói với vua giùm cho ngươi.

便

yú shì , bá shì bā qù jiàn suǒ luó mén wáng , yào wèi yà duō ní yǎ tí shuō ; wáng qǐ lái yíng jiē , xiàng tā xià bài , jiù zuò zài wèi shàng , fēn fù rén wéi wáng mǔ shè yí zuò wèi , tā biàn zuò zài wáng de yòu biān 。

Bát-Sê-ba đi đến vua Sa-lô-môn, để nói với người giùm cho A-đô-ni-gia. Vua đứng dậy đi đón bà, cúi xuống lạy bà; đoạn, người ngồi trên ngai mình, và sai đặt một ngai khác cho mẹ mình; bà bèn ngồi bên tay hữu vua.

:「。」:「。」

bá shì bā shuō :「 wǒ yǒu yí jiàn xiǎo shì qiú nǐ , wàng nǐ bú yào tuī cí 。」 wáng shuō :「 qǐng mǔ qīn shuō , wǒ bì bù tuī cí 。」

Bà nói với vua rằng: Mẹ có một việc nhỏ xin con, con chớ từ chối. Vua đáp: Mẹ ôi! xin hãy nói; vì tôi sẽ chẳng từ chối với mẹ đâu.

:「。」

bá shì bā shuō :「 qiú nǐ jiāng shū niàn de nǚ zǐ yà bǐ shà cì gěi nǐ gē ge yà duō ní yǎ wèi qī 。」

Bà tiếp: Hãy ban A-bi-sác, người Su-nem, làm vợ A-đô-ni-gia, là anh con.

:「。」

suǒ luó mén wáng duì tā mǔ qīn shuō :「 wèi hé dān tì tā qiú shū niàn de nǚ zǐ yà bǐ shà ne ? yě kě yǐ wéi tā qiú guó ba ! tā shì wǒ de gē ge , tā yǒu jì sī yà bǐ yà tā hé xǐ lǔ yǎ de ér zi yuē yā wèi fǔ zuǒ 。」

Nhưng vua Sa-lô-môn thưa cùng mẹ mình rằng: Cớ sao mẹ xin A-bi-sác, người Su-nem, cho A-đô-ni-gia? Cũng hãy xin nước cho người luôn, vì người là anh cả tôi; hãy xin cho người, cho thầy tế lễ A-bia-tha, và cho Giô-áp, con trai Xê-ru-gia.

:「

suǒ luó mén wáng jiù zhǐ zhe yē hé huá qǐ shì shuō :「 yà duō ní yǎ zhè huà shì zì jǐ sòng mìng , bù rán , yuàn shén chóng chóng dì jiàng fá yǔ wǒ 。

Vua Sa-lô-môn bèn chỉ Đức Giê-hô-va mà thề rằng: A-đô-ni-gia có nói lời đó nghịch với mạng sống mình; bằng chẳng, nguyện Đức Chúa Trời xử tôi cách nặng nề!

使。」

yē hé huá jiān lì wǒ , shǐ wǒ zuò zài fù qīn dà wèi de wèi shàng , zhào zhe suǒ yīng xǔ de huà wèi wǒ jiàn lì jiā shì ; xiàn zài wǒ zhǐ zhe yǒng shēng de yē hé huá qǐ shì , yà duō ní yǎ jīn rì bì bèi zhì sǐ 。」

Bây giờ, tôi chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng đã làm cho tôi vững vàng, và khiến tôi ngồi trên ngai của Đa-vít, cha tôi, cùng lập một nhà cho tôi y như lời Ngài đã hứa, mà thề rằng: A-đô-ni-gia sẽ bị xử tử chính ngày hôm nay.

yú shì suǒ luó mén wáng chāi qiǎn yē hé yē dà de ér zi bǐ ná yǎ , jiāng yà duō ní yǎ shā sǐ 。

Vua Sa-lô-môn bèn truyền lịnh cho Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, xông đánh A-đô-ni-gia, thì người chết.

:「。」

wáng duì jì sī yà bǐ yà tā shuō :「 nǐ huí yà ná tū guī zì jǐ de tián dì qù ba ! nǐ běn shì gāi sǐ de , dàn yīn nǐ zài wǒ fù qīn dà wèi miàn qián tái guò zhǔ yē hé huá de yuē guì , yòu yǔ wǒ fù qīn tóng shòu yí qiè kǔ nàn , suǒ yǐ wǒ jīn rì bù jiāng nǐ shā sǐ 。」

Đoạn, vua nói với thầy tế lễ A-bia-tha rằng: Hãy lui về A-na-tốt, trong đất ngươi, vì ngươi đáng chết. Song ngày nay ta không giết ngươi, vì ngươi có khiêng hòm giao ước của Chúa Giê-hô-va, trước mặt Đa-vít, là cha ta, và bởi vì ngươi đã bị hoạn nạn trong các sự hoạn nạn của cha ta.

便

suǒ luó mén jiù gé chú yà bǐ yà tā , bù xǔ tā zuò yē hé huá de jì sī 。 zhè yàng , biàn yìng yàn yē hé huá zài shì luó lùn yǐ lì jiā suǒ shuō de huà 。

Như vậy, Sa-lô-môn đuổi A-bia-tha ra đi không cho làm thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va nữa, hầu cho lời của Đức Giê-hô-va đã phán về nhà Hê-li, tại Si-lô, được ứng nghiệm.

yuē yā suī rán méi yǒu guī cóng yā shā lóng , què guī cóng le yà duō ní yǎ 。 tā tīng jiàn zhè fēng shēng , jiù táo dào yē hé huá de zhàng mù , zhuā zhù jì tán de jiǎo 。

Tin này thấu đến Giô-áp. (Vả Giô-áp đã theo phe A-đô-ni-gia, dầu không có theo phe của Aùp-sa-lôm). Người liền trốn đến Đền tạm của Đức Giê-hô-va, và nắm sừng của bàn thờ.

:「。」:「。」

yǒu rén gào sù suǒ luó mén wáng shuō :「 yuē yā táo dào yē hé huá de zhàng mù , xiàn jīn zài jì tán de páng biān 。」 suǒ luó mén jiù chāi qiǎn yē hé yē dà de ér zi bǐ ná yǎ , shuō :「 nǐ qù jiāng tā shā sǐ 。」

Người ta đến tâu với vua Sa-lô-môn rằng: Giô-áp đã trốn đến Đền tạm của Đức Giê-hô-va, và kìa người đứng bên cạnh bàn thờ. Sa-lô-môn bèn sai Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, mà dặn rằng: Hãy đi đánh giết hắn đi.

:「!」:「。」

bǐ ná yǎ lái dào yē hé huá de zhàng mù , duì yuē yā shuō :「 wáng fēn fù shuō , nǐ chū lái ba !」 tā shuō :「 wǒ bù chū qù , wǒ yào sǐ zài zhè lǐ 。」 bǐ ná yǎ jiù qù huí fù wáng , shuō yuē yā rú cǐ rú cǐ huí dá wǒ 。

Bê-na-gia đi đến Đền tạm của Đức Giê-hô-va, nói cùng Giô-áp rằng: Vua có nói như vầy: Hãy ra khỏi đó. Giô-áp đáp: Không; ta muốn chết tại đây. Bê-na-gia đi thuật lại cho vua, và tâu rằng: Giô-áp đã nói và đáp lại như vậy.

:「

wáng shuō :「 nǐ kě yǐ zhào zhe tā de huà xíng , shā sǐ tā , jiāng tā zàng mái , hǎo jiào yuē yā liú wú gū rén xuè de zuì bù guī wǒ hé wǒ de fù jiā le 。

Vua nói rằng: Hãy làm y như hắn nói. Hãy giết hắn và chôn đi. Như vậy, ngươi sẽ cất khỏi ta và khỏi nhà cha ta huyết mà Giô-áp đã đổ ra vô cớ.

使

yē hé huá bì shǐ yuē yā liú rén xuè de zuì guī dào tā zì jǐ de tóu shàng ; yīn wèi tā yòng dāo shā le liǎng gè bǐ tā yòu yì yòu hǎo de rén , jiù shì yǐ sè liè yuán shuài ní ěr de ér zi yā ní ěr hé yóu dà yuán shuài yì tiē de ér zi yà mǎ sā , wǒ fù qīn dà wèi què bù zhī dào 。

Đức Giê-hô-va sẽ khiến huyết hắn đổ lại trên đầu hắn, vì hắn đã xông vào hai người công bình hơn, tốt hơn hắn, và giết họ bằng gươm, mà Đa-vít, cha ta, không hay đến chi cả: ấy là Aùp-ne, con trai của Nê-rơ, quan tướng của đạo binh Y-sơ-ra-ên, và A-ma-sa, con trai Giê-the, quan tướng của đạo binh Giu-đa.

。」

gù cǐ , liú zhè èr rén xuè de zuì bì guī dào yuē yā hé tā hòu yì de tóu shàng , zhí dào yǒng yuǎn ; wéi yǒu dà wèi hé tā de hòu yì , bìng tā de jiā yǔ guó , bì cóng yē hé huá nà lǐ dé píng ān , zhí dào yǒng yuǎn 。」

Huyết hai người ấy sẽ đổ lại trên đầu Giô-áp và trên đầu của dòng dõi nó cho đến đời đời; còn phần Đa-vít và dòng dõi người, nhà và ngôi nước người sẽ nhờ Đức Giê-hô-va mà được bình yên mãi mãi.

yú shì yē hé yē dà de ér zi bǐ ná yǎ shàng qù , jiāng yuē yā shā sǐ , zàng zài kuàng yě yuē yā zì jǐ de fén mù lǐ 。

Vậy, Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, trở lên xông vào Giô-áp và giết người. Người được chôn ở nhà người, tại nơi đồng vắng.

使

wáng jiù lì yē hé yē dà de ér zi bǐ ná yǎ zuò yuán shuài , dài tì yuē yā , yòu shǐ jì sī sā dū dài tì yà bǐ yà tā 。

Vua đặt Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, làm quan tổng binh thay cho Giô-áp, và lập Xa-đốc làm thầy tế lễ thay cho A-bia-tha.

:「

wáng chāi qiǎn rén jiāng shì měi zhào lái , duì tā shuō :「 nǐ yào zài yē lù sā lěng jiàn zào fáng wū jū zhù , bù kě chū lái wǎng bié chù qù 。

Đoạn, vua sai đòi Si-mê-i, và nói với người rằng: Hãy cất cho ngươi một cái nhà tại Giê-ru-sa-lem, và ở đó; chớ ra đặng đi đầu này đầu kia.

。」

nǐ dāng què shí dì zhī dào , nǐ hé rì chū lái guò jí lún xī , hé rì bì sǐ ! nǐ de zuì bì guī dào zì jǐ de tóu shàng 。」

Vì khá biết rằng ngày nào ngươi ra khỏi đó, và đi qua khe Xết-rôn, thì chắc ngươi sẽ chết: huyết ngươi sẽ đổ lại trên đầu ngươi.

:「。」

shì měi duì wáng shuō :「 zhè huà shèn hǎo ! wǒ zhǔ wǒ wáng zěn yàng shuō , pú rén bì zěn yàng xíng 。」 yú shì shì měi duō rì zhù zài yē lù sā lěng 。

Si-mê-i thưa với vua rằng: Lời ấy phải lắm, vua chúa tôi phán dặn điều gì, kẻ tôi tớ vua sẽ làm điều đó. Vậy, Si-mê-i ở lâu ngày tại Giê-ru-sa-lem.

:「。」

guò le sān nián , shì měi de liǎng gè pú rén táo dào jiā tè wáng mǎ jiā de ér zǐ yà jí nà lǐ qù 。 yǒu rén gào sù shì měi shuō :「 nǐ de pú rén zài jiā tè 。」

Cuối ba năm, xảy có hai kẻ tôi tớ của Si-mê-i trốn đến nhà A-kích, con trai Ma-a-ca, vua của Gát. Người ta đến thuật điều đó cho Si-mê-i mà rằng: Kìa, hai kẻ tôi tớ ông ở tại Gát.

shì měi qǐ lái , bèi shàng lǘ , wǎng jiā tè dào yà jí nà lǐ qù zhǎo tā de pú rén , jiù cóng jiā tè dài tā pú rén huí lái 。

Si-mê-i chổi dậy, thắng lừa mình, đi đến Gát, nơi nhà A-kích, đặng tìm hai kẻ tôi tớ mình. Gặp đoạn, bèn dẫn chúng nó về.

:「。」

yǒu rén gào sù suǒ luó mén shuō :「 shì měi chū yē lù sā lěng wǎng jiā tè qù , huí lái le 。」

Người ta thuật cho Sa-lô-môn rằng Si-mê-i ở Giê-ru-sa-lem đã đi đến Gát, rồi trở về.

:「:『。』

wáng jiù chāi qiǎn rén jiāng shì měi zhào le lái , duì tā shuō :「 wǒ qǐ bú shì jiào nǐ zhǐ zhe yē hé huá qǐ shì , bìng qiě jǐng jiè nǐ shuō 『 nǐ dāng què shí dì zhī dào , nǐ nǎ rì chū lái wǎng bié chù qù , nà rì bì sǐ 』 ma ? nǐ yě duì wǒ shuō :『 zhè huà shèn hǎo , wǒ bì tīng cóng 。』

Vua sai đòi Si-mê-i mà phán rằng: Ta há chẳng có bắt ngươi chỉ Đức Giê-hô-va mà thề, và bảo ngươi trước rằng: Khá biết rằng ngày nào ngươi ra, và đi đầu này đầu kia, thì ngươi chắc sẽ chết sao? Và ngươi có thưa cùng ta rằng: Lời tôi đã nghe, thậm phải?

?」

xiàn zài nǐ wèi hé bù zūn shǒu nǐ zhǐ zhe yē hé huá qǐ de shì hé wǒ suǒ fēn fù nǐ de mìng lìng ne ?」

Vậy, cớ sao ngươi không giữ lời chỉ Đức Giê-hô-va mà thề, và mạng lịnh ta đã truyền cho ngươi?

:「使

wáng yòu duì shì měi shuō :「 nǐ xiàng wǒ fù qīn dà wèi suǒ xíng de yí qiè è shì , nǐ zì jǐ xīn lǐ yě zhī dào , suǒ yǐ yē hé huá bì shǐ nǐ de zuì è guī dào zì jǐ de tóu shàng ;

Vua lại nói với Si-mê-i rằng: Ngươi biết mọi sự ác ngươi đã làm cho Đa-vít, là cha ta, mà lòng ngươi vẫn còn nhớ lắm. Vậy nên Đức Giê-hô-va sẽ khiến sự ác của ngươi đổ lại tên đầu ngươi.

。」

wéi yǒu suǒ luó mén wáng bì dé fú , bìng qiě dà wèi de guó wèi bì zài yē hé huá miàn qián jiān dìng , zhí dào yǒng yuǎn 。」

Nhưng vua Sa-lô-môn sẽ được phước, và ngôi của Đa-vít sẽ được lập vững bền trước mặt Đức Giê-hô-va đến đời đời.

便

yú shì wáng fēn fù yē hé yē dà de ér zi bǐ ná yǎ , tā jiù qù shā sǐ shì měi 。 zhè yàng , biàn jiān dìng le suǒ luó mén de guó wèi 。

Đoạn, vua truyền lịnh cho Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa; người bèn đi ra đánh giết Si-mê-i. Như vậy, ngôi nước được vững bền trong tay Sa-lô-môn.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.